Kinh tế New Brunswick

1. KINH TE

Một phần lớn nền kinh tế ở New Brunswick được kiểm soát bởi Tập đoàn Irving. Công ty có cổ phần ở các lĩnh vực như nông nghiệp, lâm nghiệp, chế biến thực phẩm, vận tải hàng hóa, dầu mỏ và đóng tàu.

Ngành dịch vụ

Tính đến tháng 10 năm 2017, việc làm được điều chỉnh theo mùa là 73.400 đối với lĩnh vực sản xuất hàng hóa và 280.900 đối với lĩnh vực sản xuất dịch vụ. Những người trong các ngành sản xuất hàng hóa chủ yếu làm việc trong lĩnh vực sản xuất hoặc xây dựng, trong khi những người trong ngành dịch vụ làm việc trong các lĩnh vực trợ giúp xã hội, thương mại và chăm sóc sức khỏe.

Du lịch chiếm khoảng 9% lực lượng lao động trực tiếp và gián tiếp. Các điểm đến phổ biến bao gồm Công viên quốc gia Fundy và Bãi đá Hopewell. Trong năm 2013, 64 tàu du lịch đã ghé cảng Port Saint John với trung bình 2.600 hành khách mỗi chiếc.

PrjG5UrEBYJEsvTLxS6PZs5FK7ofiDVCSKMNC 2VvdcR9uYAMYIcEqvc9rXddgppkjIfF54dGaPITPUqBJohQdsckz3cBkNVs6qa0atpQElPREzGcXgtqjl409tmthubpEl7mWZvn pmgMsc5Jjd8U

Nông nghiệp, lâm nghiệp, sản xuất và khai thác dầu khí

Khoảng 85 đến 90% diện tích của New Brunswick là rừng. Về mặt lịch sử, nó chiếm hơn 80% kim ngạch xuất khẩu vào giữa những năm 1800. Vào cuối những năm 1800, ngành công nghiệp và đóng tàu đã suy giảm do các yếu tố kinh tế bên ngoài. Những năm 1920 chứng kiến ​​sự phát triển của ngành công nghiệp giấy và bột giấy. Vào giữa những năm 1960, các hoạt động lâm nghiệp đã thay đổi từ việc thu hoạch hàng hóa có kiểm soát sang trồng rừng. Ngành công nghiệp sử dụng gần 12.000 lao động, tạo ra doanh thu khoảng $ 437 triệu USD.

Xu5L4AVx2MR8ShIv57hs51rPyJ9d8LP6F8SQn0nLFoZE 8K7mdQPU6MJPZ3YsC9g0CDY sfLevhfQSuuT4trthpcQ8 XKh1oitcJJ7CKF2PoNWiMLOn0 Zm4M1E8U5LSSvtS7aCGRjhoK5Mrc1v4gpQ

Hoạt động khai thác mỏ không quan trọng ở tỉnh bang, nhưng đã phát triển từ những năm 1950. GDP của tỉnh bang từ ngành Khai thác và Khai thác đá năm 2015 là $ 299,5 triệu USD. Các mỏ ở New Brunswick sản xuất chì, kẽm, đồng và kali.

McCain Foods là một trong những nhà sản xuất các sản phẩm khoai tây đông lạnh lớn nhất thế giới. Các sản phẩm khác bao gồm táo, nam việt quất và si-rô cây phong. Năm 2015, New Brunswick là nhà sản xuất quả việt quất dại lớn nhất ở Canada. Giá trị của ngành chăn nuôi đạt khoảng $ 250.000 USD, gần một nửa trong số đó là sữa. Các ngành khác bao gồm gia cầm, lông thú và dê, cừu và lợn.

Giao thông

Sở giao thông và Cơ sở hạ tầng duy trì các hạ tầng của chính phủ và mạng lưới đường cao tốc và phà của tỉnh bang. Đường sắt Quốc gia Canada khai thác các dịch vụ vận chuyển hàng hóa dọc theo cùng một tuyến đường, cũng như một phân khu từ Moncton đến Saint John. Đường sắt phía Nam New Brunswick, một nhánh của tập đoàn JD Irving Limited, cùng với công ty chị em của nó là Đường sắt Đông Maine tạo thành tuyến đường chính dài 305km nối liền Saint John và Brownville Junction.

Hoạt động tài chính

Năm 2015, New Brunswick có nền kinh tế kém hiệu quả nhất so với bất kỳ tỉnh bang nào của Canada, với thu nhập bình quân đầu người là $ 28.000 USD. Trong năm tài chính 2014–2015, nợ của tỉnh bang đạt $ 12,2 tỷ USD hay 37,7% GDP danh nghĩa, tăng so với mức $ 10,1 tỷ USD được ghi nhận trong năm 2011–2012. Chính phủ đã từng hoạt động với mức thâm hụt lớn. Với khoảng một nửa dân số sinh sống ở nông thôn, việc cung cấp các dịch vụ giáo dục và y tế của chính phủ là rất tốn kém, chiếm 60% chi tiêu của chính phủ, 36% ngân sách tỉnh bang được chi trả bởi chính quyền liên bang.

gTe23BWtOsH3JwplsYSxsuzir KQw8qZ6Iqs7GvPAxhyw7D ARbQ0vqlOxDJYJV AobbGHgXC1Ap2Dud3jxLddJ0EyeMrnozdgKSZiVKH1OIGLptBsuilmwW5xdLQlg0Rdf arzCZq7pLfUdTol4Rrg

Chính phủ thường xuyên cố gắng tạo ra việc làm thông qua trợ cấp, điều này thường không tạo ra sự thịnh vượng kinh tế lâu dài và dẫn đến nợ xấu. Theo một nghiên cứu năm 2014 của Viện Nghiên cứu Thị trường Đại Tây Dương, nợ công lớn là một vấn đề rất nghiêm trọng. Mặc dù chi tiêu giảm, GDP tăng nhưng vẫn cần có thêm các biện pháp để giảm nợ trong tương lai.