Ranh giới

New Brunswick là một trong 10 tỉnh bang và 3 vùng lãnh thổ của Canada. New Brunswick giáp với Quebec về phía Bắc, Nova Scotia về phía Đông, vịnh Saint Lawrence về phía Đông Bắc, vịnh Fundy về phía Đông Nam và bang Maine của Hoa Kỳ về phía Tây. Tổng diện tích của tỉnh bang là 72.908 km2.

Địa hình

New Brunswick nằm hoàn toàn trong dãy núi Appalachian, một chuỗi các ngọn núi cổ bị xói mòn đã tạo ra các thung lũng và những ngọn đồi thoai thoải trên khắp các vùng rộng lớn của tỉnh bang bao gồm:

  • Vùng cao nguyên Chaleur: kéo dài từ Maine đến phía Bắc của tỉnh bang và được thoát nước bởi các sông Saint John và Restigouche.
  • Dãy núi Notre Dame ở góc Tây Bắc, nơi có độ cao thay đổi từ 150m đến 610m, có nhiều hồ nhỏ và độ dốc lớn.
  • Cao nguyên New Brunswick bao gồm Cao nguyên Caledonia, St. Croix và Miramichi.

Vùng đất thấp nằm ở khu vực miền trung và miền đông. Khu vực trũng này hầu hết ở độ cao dưới 100m so với mực nước biển và độ cao hiếm khi vượt quá 180m.

0PQOWmUZ oTyRv0fzlk4FaB5SsCymWb1AedxRniV0p3w 31MVVl0zJ4X9sGVJ9om9xFxCOmhdn7Yyw V0CJLj L1YSgaRHNJWFShVrSAExroRLuc2tYnDtZ 5YekERjYIFhJpQ89jYqIrw 2aiteoQ

Thủy văn

Hệ thống các con sông chính ở New Brunswick bao gồm sông Saint John, sông Petitcodiac, sông Miramichi, sông St. Croix và sông Restigouche. Sông Saint John được cho là con sông dài thứ hai trên biển đông Bắc Mỹ nằm giữa sông St. Lawrence và sông Mississippi. Bờ biển phía Bắc dọc theo vịnh Miramichi, vịnh St. Lawrence và vịnh Chaleur được gọi là Bờ Bắc, khu vực này chủ yếu nói tiếng Pháp nhưng cũng có khá nhiều cộng đồng nói tiếng Anh.

Mo9R7EQtbuVFSFqRJ7AE7FiAh7PvtsscpVnw4YEpKtKdf34NFFSHxvKx3mDCEdylo ijG2 DOJzHA1PuL0

Phân bổ vị trí địa lý

Khoảng 80% diện tích của tỉnh bang là rừng, 20% còn lại là đất nông nghiệp và các khu đô thị. Phần lớn diện tích đất canh tác được tìm thấy ở Thung lũng sông Thượng Saint John, phần ít canh tác được tìm thấy ở phía đông nam.

Các trung tâm đô thị lớn nằm ở phía nam của tỉnh bang, gần một nửa số dân cư của tỉnh bang New Brunswick sống ở các vùng nông thôn.

Địa chất

Các loại hình địa chất có nền móng từ 1 tỷ đến 200 triệu năm tuổi. Trong thời kỳ Cacbon, khoảng 340 triệu năm trước, New Brunswick nằm trong Lưu vực Maritimes, một lưu vực trầm tích gần đường xích đạo. Các trầm tích do các con sông mang từ những vùng đất cao xung quanh, tích tụ ở đó. Sau khi được nén, họ sản xuất đá phiến dầu Albert của miền nam New Brunswick. Cuối cùng, nước biển từ Đại dương xâm nhập vào lưu vực, tạo thành Biển Windsor.

9ikUI4jODYqwIplOVYdEZn2m3HEPhocknGy6Wmo5DMGwVHz62LOtV

Khí hậu

New Brunswick có khí hậu lục địa ẩm ướt trên toàn tỉnh bang với mùa đông ôn hòa hơn ở đường bờ biển Vịnh St. Lawrence. Vùng xa phía bắc của tỉnh bang nằm ngay trên vùng cận Bắc Cực với mùa đông rất lạnh. Mùa đông ở đây lạnh hơn so với mùa đông ở Nova Scotia do ảnh hưởng của vị trí địa lý, mùa hè ấm áp nhưng đôi khi cũng cực nóng.

Bằng chứng về biến đổi khí hậu ở New Brunswick có thể được nhìn thấy trong các hiện tượng thời tiết như mưa ngày càng dữ dội hơn, mùa đông băng tan nhanh hơn và lượng tuyết rơi từ 1/4 đến 1/2. Ngày nay mực nước biển cao hơn khoảng 30cm với 100 năm trước và dự kiến ​​sẽ tăng gấp đôi lần nữa vào năm 2100.

Động thực vật

Phần lớn diện tích ở New Brunswick là rừng thứ sinh hoặc rừng cấp ba. Ngày nay ít hơn 1% diện tích rừng Acadian già cỗi vẫn còn. Quỹ bảo vệ thiên nhiên thế giới liệt kê rừng Acadian có nguy cơ biến mất do vấn đề định cư và khai thác gỗ quá mức gây ra, rừng Acadian không phát triển trở lại như ban đầu mà đang bị sâu đục khoét.

IxFifqQLx6jYRIY10rGzntrGfP dvJ0MFPc9 V9vBqIGgo5PVIb02aIZYy SdVYwliIwQp33u NL185DdR3r5shN7eMLb0WcVpN4g6EAft8AWyiBhc9sS3I0Af2sw9XiBokEeJS54mLffPfML4Zz1G4

Hệ sinh thái rừng hỗ trợ các loài động vật ăn thịt lớn như linh miêu đỏ, linh miêu Canada và gấu đen, các loài động vật ăn cỏ lớn như nai sừng tấm và hươu đuôi trắng.