Lịch sử British Columbia

Lịch sử British Columbia 1

Bộ tộc đầu tiên

British Columbia trước đây là quê hương của người thổ dân, có lịch sử lâu đời với một số lượng đáng kể các ngôn ngữ bản địa. Có hơn 200 quốc gia tại British Columbia. Trước khi người châu Âu tiếp cận, lịch sử loài người được biết đến từ lịch sử truyền miệng của các nhóm quốc gia thuộc các bộ tộc đầu tiên.

Sự xuất hiện của người thổ dân Paleo di cư qua eo biển Beringia diễn ra từ 20.000 đến 12.000 năm trước công nguyên. Kinh tế xã hội nguyên thủy được xây dựng dựa trên săn bắn hái lượm từ 10.000 đến 5.000 năm trước công nguyên. Dân du mục tổ chức săn bắn và hái lượm để lấy thức ăn và lông thú. Khoảng 5.000 năm trước, các tộc người riêng lẻ bắt đầu tập trung vào các nguồn lực có sẵn tại nơi họ sinh sống.

Buôn bán lông thú và thời kỳ thuộc địa

Sự xuất hiện của người châu Âu bắt đầu vào khoảng giữa thế kỷ 18, khi những người buôn bán lông thú tiến vào khu vực để săn bắn rái cá biển. Trong khi người ta cho rằng Francis Drake đã khám phá bờ biển British Columbia vào năm 1579, nhưng thực ra Juan Pérez đã hoàn thành chuyến đi đầu tiên, diễn ra vào năm 1774. Juan Francisco de la Bodega y Quadra đã khám phá bờ biển vào năm 1775. Cũng với cách tương tự, Pérez và Quadra tái khẳng định yêu sách của Tây Ban Nha đối với bờ biển Thái Bình Dương, lần đầu tiên được thực hiện bởi Vasco Núñez de Balboa vào năm 1513.

Các cuộc thám hiểm của James Cook vào năm 1778 và George Vancouver vào năm 1792 đã tạo nên quyền lực của người Anh đối với khu vực ven biển phía bắc và phía tây của sông Columbia. Năm 1793, Alexander Mackenzie là người châu Âu đầu tiên hoàn thành hành trình xuyên Bắc Mỹ đến Thái Bình Dương, ghi một hòn đá đánh dấu thành tựu của ông trên bờ biển của kênh Dean gần Bella Coola. Đoàn thám hiểm của ông về mặt lý thuyết đã thiết lập chủ quyền của Anh. Mackenzie và các nhà thám hiểm khác, đặc biệt là John Finlay, Simon Fraser, Samuel Black và David Thompson, chủ yếu quan tâm đến việc mở rộng buôn bán lông thú, thay vì chính trị.

Lịch sử British Columbia 3

Thuộc địa của British Columbia (1858 – 1866)

Khi tin tức về cơn sốt vàng ở rặng Fraser đến London, Richard Clement Moody đã được văn phòng Thuộc địa, dưới quyền Edward Bulwer-Lytton, giúp thiết lập trật tự của Anh tại Thuộc địa mới.

Moody và gia đình đến British Columbia vào tháng 12/1858, chỉ huy các Kỹ sư hoàng gia chi nhánh Columbia. Ông đã tuyên thệ nhậm chức quận công đầu tiên của British Columbia và được bổ nhiệm làm Ủy viên Hội đồng đất đai và công trình của British Columbia.

Sau cơn sốt vàng

Một loạt các cơn sốt vàng ở nhiều nơi trong tỉnh diễn ra sau đó, lớn nhất là cơn sốt vàng Cariboo năm 1862, buộc chính quyền thuộc địa phải gánh chịu nợ nần khi phải đáp ứng nhu cầu cơ sở hạ tầng rộng lớn của các cộng đồng phát triển như Barkerville và Lillooet. Thuộc địa đảo Vancouver phải đối mặt với khủng hoảng tài chính và buộc phải sát nhập vào năm 1866, khi thuộc địa của British Columbia được hợp nhất với thuộc địa đảo Vancouver để tạo thành thuộc địa của British Columbia (1866 – 1871) và trở thành tỉnh bang của Liên bang Canada vào năm 1871.

Lịch sử British Columbia 2

Tăng trưởng và phát triển nhanh chóng

Hội nghị tỉnh bang, bao gồm các nhân vật như Amor De Cosmos, John Robson và Robert Beaven, đã dẫn đầu cho nhóm cải cách đưa British Columbia gia nhập Canada, vốn được thành lập từ ba thuộc địa Bắc Mỹ thuộc Anh vào năm 1867 (Tỉnh Canada, Nova Scotia và New Brunswick). Một số yếu tố thúc đẩy sự kích động này, bao gồm nỗi lo sáp nhập vào Hoa Kỳ, nợ quá lớn được tạo ra bởi sự gia tăng dân số không kiểm soát, nhu cầu về các dịch vụ do chính phủ hỗ trợ và suy thoái kinh tế do sự kết thúc của cơn sốt vàng.

Với sự đồng ý của chính phủ Canada, việc mở rộng Đường sắt Thái Bình Dương của Canada đến British Columbia và nhận thanh toán những khoản nợ của thuộc địa British Columbia, tỉnh bang này trở thành tỉnh thứ sáu gia nhập Liên bang Canada vào ngày 20/ 07/ 1871.

Trong thế chiến thứ nhất, tỉnh bang này đã phản ứng mạnh mẽ với lời kêu gọi hỗ trợ Đế quốc Anh chống lại kẻ thù Đức trên chiến trường Pháp và Bỉ. Khoảng 55.570 trong số 400.000 dân tại British Columbia đáp ứng nhu cầu quân sự. Các binh sĩ từ tỉnh bang và các binh sĩ người thổ dân đã tham chiến trong trận Vimy Ridge và nhiều trận chiến khác.

Giai đoạn thập niên 1920 đến thập niên 1940

Khi những người đàn ông trở về từ thế chiến thứ nhất, họ phát hiện ra những người phụ nữ của tỉnh bang đã bỏ phiếu tán thành việc cấm rượu trong nỗ lực chấm dứt các vấn đề xã hội liên quan đến việc uống rượu tại Vancouver và phần lãnh thổ khác ở tỉnh bang. Do áp lực từ các cựu chiến binh, sự cấm đoán nhanh chóng được nới lỏng để người lính và người lao động có thể thưởng thức đồ uống, nhưng tình trạng thất nghiệp trong giới cựu chiến binh đã xuất hiện và lan rộng bởi nhiều công việc đã được đảm nhiệm bởi người nhập cư châu Âu. Các cựu chiến binh đã tổ chức một loạt các đảng khác nhau để đại diện cho lợi ích của họ. Những điều này đã tạo ra sự rạn nứt trong chính trị và một loạt các đảng cánh tả và cánh hữu.

Đời sống kinh tế bắt đầu trở lại bình thường vào cuối những năm 1930, nhưng đó là sự khởi đầu của thế chiến thứ 2 đã làm thay đổi nền kinh tế quốc gia và chấm dứt thời kỳ khó khăn của cuộc khủng hoảng.

British Columbia từ lâu đã tận dụng vị trí của mình trên Thái Bình Dương để có quan hệ chặt chẽ với Đông Á. Sự gần gũi này thường gây ra xích mích giữa các nền văn hóa đôi khi  thành sự thù địch phân biệt chủng tộc đối với những người gốc Á. Đây là biểu hiện rõ nhất trong chiến tranh thế giới thứ hai khi nhiều người gốc Nhật được tái định cư hoặc làm việc trong lãnh thổ tỉnh bang.