Lịch sử Ontario

Lịch sử Ontario 1

Trước thời kỳ khai phá của người châu Âu

Trước thời kỳ khai phá của người châu Âu, Ontario là nơi sinh sống của người Algonquian (Ojibwe, Cree và Algonquin) ở phía bắc và phía tây, người Iroquois và Wyandot (Huron) sống nhiều ở phía nam và phía đông. Trong thế kỷ 17, người Algonquian và Huron đã chiến đấu với cuộc chiến Beaver chống lại Iroquois.

Liên hệ với người châu Âu

Nhà thám hiểm người Pháp Étienne Brûlé khám phá ra một phần của khu vực vào năm 1610 – 1612.  Nhà thám hiểm người Anh Henry Hudson đã đi thuyền vào vịnh Hudson ngày nay vào năm 1611 và tuyên bố khu vực này thuộc về nước Anh.

Samuel de Champlain đến hồ Huron năm 1615, và các nhà truyền giáo Pháp bắt đầu xây dựng dọc theo Great Lakes. Sự phát triển của người Pháp tại thuộc địa này bị cản trở bởi cuộc chiến với Iroquois, đã liên minh với người Anh. Từ năm 1634 đến năm 1640, người Huron bị tàn phá bởi dịch bệnh truyền nhiễm ở châu Âu như sởi và đậu mùa. Năm 1700, Iroquois đã rời khỏi Ontario và Mississaugas.

Anh cho thành lập các trụ sở thương mại trên vịnh Hudson vào cuối thế kỷ 17 và bắt đầu một cuộc đấu tranh thống trị tại Ontario. Hiệp ước Paris kết thúc chiến tranh bảy năm bằng cách trao trả gần như tất cả lãnh thổ Bắc Mỹ của Tân Pháp cho người Anh. Khu vực này được nối vào Quebec năm 1774.

Thượng Canada

Quân Mỹ trong chiến tranh năm 1812 đã xâm chiếm thượng Canada, vượt qua sông Niagara và sông Detroit, nhưng đã bị đánh bại và đẩy lùi bởi lực lượng của Anh và Canada. Tuy nhiên, cuối cùng người Mỹ đã giành quyền kiểm soát Lake Erie và Lake Ontario. Trong trận chiến York năm 1813, quân đội Hoa Kỳ chiếm thành phố York. Người Mỹ cướp phá thị trấn và đốt tòa nhà Nghị viện trong thời gian chiếm đóng.

Lịch sử Ontario 2

Tình trạng bất ổn ở vùng thuộc địa bắt đầu khi người điều hành các lợi ích kinh tế là tầng lớp quý tộc. Sự oán giận này thúc đẩy lý tưởng cộng hòa và gieo hạt giống cho chủ nghĩa dân tộc Canada. Theo đó, cuộc nổi dậy ủng hộ chính phủ có trách nhiệm tăng ở cả hai khu vực: Louis-Joseph Papineau dẫn đầu cuộc nổi dậy ở Hạ Canada và William Lyon Mackenzie dẫn đầu cuộc nổi dậy ở Thượng Canada.

Tây Canada

Mặc dù cả hai cuộc nổi dậy đều sớm bị dập tắt, chính phủ Anh đã gửi Lord Durham để điều tra nguyên nhân gây ra tình trạng bất ổn. Ông đề nghị thành lập Chính phủ tự trị, sát nhập hai tỉnh Thượng Canada và Hạ Canada theo Đạo luật liên Minh 1840 và gọi là Tây Canada. Nghị viện được thành lập vào năm 1848. Dân số của Tây Canada tăng hơn gấp đôi vào năm 1851 nhờ những làn sóng nhập cư từ năm 1840.

Một sự bất đồng chính trị giữa các nhà lập pháp người Pháp và nhà lập pháp người Anh, cũng như sợ hãi về sự xâm lược có thể đền từ Hoa Kỳ ngay sau cuộc nội chiến Hoa Kỳ đã thúc đẩy hàng loạt các cuộc hội nghị thuộc địa của Anh tại Bắc Mỹ mà đỉnh cao là thông qua đạo luật Bắc Mỹ thuộc Anh thành lập Liên bang tự trị của Canada bao gồm New Brunswick, Nova Scotia và vùng Canada (ngày nay là Ontario và Quebec). Tỉnh bang của Canada được chia thành Ontario và Quebec, với mục đích mỗi nhóm ngôn ngữ sẽ có một tỉnh bang riêng. Toronto đã chính thức được thành lập như là thủ phủ của tỉnh Ontario.

Trở thành tỉnh bang

Sau khi trở thành tỉnh bang của Liên bang tự trị, Ontario đã tiến hành khẳng định quyền lực kinh tế và lập pháp của mình. Vào năm 1872, luật sư Oliver Mowat trở thành thống đốc tỉnh bang Ontario và giữ chức vụ này cho đến năm 1896. Ông đã chiến đấu vì quyền lợi của tỉnh bang, làm suy yếu quyền lực của chính phủ liên bang trong các vấn đề của tỉnh, thường là thông qua những lời kêu gọi tranh luận tốt với Ủy ban tư pháp của Hội đồng tư hữu. Những cuộc tranh luận của ông với chính phủ liên bang đã phân cấp rất nhiều, cho phép các tỉnh có quyền lực hơn dự tính ban đầu.

Vào tháng 7/1912, chính quyền Bảo thủ của Sir James Whitney đã ban hành Quy định 17 làm hạn chế đáng kể việc học tiếng Pháp đối với người thiểu số nói tiếng Pháp của tỉnh. Người Pháp – Canada đã phản ứng dữ dội, nhà báo Henri Bourassa đã tố cáo ông là “Bọn phổ tại Ontario”. Các quy định cuối cùng đã được bãi bỏ vào năm 1927.

Lịch sử Ontario 3

Giai đoạn sau Thế chiến thứ hai là một trong những giai đoạn thịnh vượng và tăng trưởng đặc biệt của Ontario. Ontario là người nhận đa số người di dân đến Canada, phần lớn là những người nhập cư từ Châu Âu – nạn nhận của chiến tranh tàn phá vào giai đọan 1950 – 1960. Và sau những thay đổi trong luật nhập cư của liên bang, một làn sóng nhập cư khổng lồ từ những quốc gia khác ngoài châu Âu kể từ những năm 1970. Từ một tỉnh bang bản sắc Anh quốc, Ontario đã nhanh chóng trở nên đa dạng hóa nền văn hóa.

Phong trào dân tộc chủ nghĩa ở Quebec, đặc biệt sau cuộc bầu cử Parti Québécois năm 1976, đã góp phần thúc đẩy nhiều doanh nghiệp và người nói tiếng Anh ra khỏi Quebec đến Ontario. Và kết quả là Toronto vượt qua Montreal trở thành thành phố lớn nhất và là trung tâm kinh tế của Canada. Điều kiện kinh tế suy thoái ở các vùng duyên hải cũng dẫn đến tình trạng di cư quá mức vào Ontario trong những năm cuối thế kỷ 20.