Map of Yukon
Flag_of_Yukon
Coat_of_arms_of_Yukon

TÊN GỌI

Lãnh thổ được đặt tên theo sông Yukon, con sông dài nhất ở Yukon. Tên của nó là từ một sự rút gọn của các từ trong cụm từ Gwich’in chųų gąįį han, có nghĩa là dòng sông nước trắng và nói đến “màu nhạt” của dòng chảy băng trên sông Yukon.

LỊCH SỬ

Yukon-lich-su-1

Rất lâu trước khi người châu Âu xuất hiện, miền trung và miền nam Yukon đã có người của First Nations cư trú. Các địa điểm có ý nghĩa khảo cổ ở Yukon sở hữu một số bằng chứng về sự hiện diện của con người trên lục địa Bắc Mỹ.

Vụ phun trào núi lửa của núi Churchill vào khoảng năm 800 sau Công nguyên tại bang Alaska ngày nay của Hoa Kỳ đã phủ kín miền nam Yukon bằng một lớp tro có thể nhìn thấy dọc theo Quốc lộ Klondike, và là một phần của câu chuyện dân gian của các dân tộc First Nations ở Yukon.

Người First nation sinh sống tại các bờ biển và nội địa có mạng lưới thương mại rộng khắp. Sự khám phá của châu Âu bắt đầu từ đầu thế kỷ 19 với việc buôn bán lông thú, tiếp theo là các nhà truyền giáo. Đến những năm 1870 – 1880, những người khai thác vàng bắt đầu đến. Điều này đã thúc đẩy sự gia tăng dân số và thành lập lực lượng cảnh sát, đúng lúc bắt đầu cơn sốt vàng ở Klondike vào năm 1897. Dân số tăng lên cùng với cơn sốt vàng dẫn đến việc tách Yukon khỏi Northwest Territories và hình thành lãnh thổ Yukon riêng biệt vào năm 1898.

ĐỊA LÝ

Lãnh thổ có hình dạng gần đúng của một tam giác vuông, Yukon có phía tây và tây bắc giáp với tiểu bang Alaska của Hoa Kỳ với đường biên giới dài 1.210 km nằm dọc  theo kinh độ 141, giáp với Northwest Territories ở phía đông và British Columbia ở phía nam.

Điểm cao nhất của Canada, Núi Logan 5.959m nằm ở phía tây nam của lãnh thổ. Núi Logan và một phần lớn lãnh thổ phía Tây Nam Yukon nằm trong Công viên bảo tồn quốc gia Kluane, Di sản Thế giới của UNESCO. Các công viên quốc gia khác bao gồm Công viên Quốc gia Ivvasta và Công viên Quốc gia Vuntut ở phía bắc.

Địa hình Yukon chủ yếu là đồi núi xen kẽ với hệ thống sông hồ. Khí hậu Yukon nhìn chung khá phức tạp.

Yukon-dia-ly-1

Nhiệt độ trung bình mùa đông ở Yukon tương đối nhẹ nhàng hơn tiêu chuẩn khí hậu Bắc cực của Canada. Không có nơi nào khác ở Bắc Mỹ lạnh như Yukon trong những đợt rét đậm. Nhiệt độ đã giảm xuống −60°C ba lần vào các năm 1947, 1952 và 1968. Trận rét cực đoan nhất xảy ra vào 02/1947 khi thị trấn Snag bị bỏ hoang có nhiệt độ −63,0°C

Không giống như hầu hết Canada, thời điểm nóng nhất của Yukon thường xảy ra vào thang 5, tháng 6 (các vùng khác thường nóng nhất vào tháng 7,8,9). Yukon đã đạt nhiệt độ 36°C ba lần trong lịch sử (kể từ khi số liệu được ghi nhận).

Yukon-dia-ly-2

NHÂN KHẨU HỌC

Tổng điều tra dân số năm 2016 đã báo cáo dân số Yukon là 35.874, tăng 5,8% so với năm 2011. Với diện tích 474.712,64 km2, Yukon có mật độ dân số 0,1 người/ km2 vào năm 2011.

Theo điều tra dân số Canada năm 2006, phần lớn dân số lãnh thổ Yukon là người gốc châu Âu, mặc dù nơi đây cũng có nhiều dân cư là người của cộng đồng First Nation.

Khảo sát hộ gia đình quốc gia năm 2011 cho thấy sự đa dạng về văn hóa và dân tộc của Yukon. Vào thời điểm đó, 87,7% cư dân là người gốc Canada và 24,2% là người gốc Thổ Nhĩ Kỳ.

Yukon-nhan-khau-hoc

Số người nói tiếng Anh chiếm 85%. Số người nói tiếng Pháp chiếm 4%. Đạo luật Ngôn ngữ Yukon công nhận tầm quan trọng của ngôn ngữ thổ dân ở Yukon, mặc dù chỉ có tiếng Anh và tiếng Pháp dùng trong các cơ quan chính phủ, bao gồm cái thủ tục tại tòa án và cơ quan lập pháp.

Khảo sát hộ gia đình quốc gia năm 2011 báo cáo rằng 49,9% người Yukon không có tôn giao, tỷ lệ cao nhất ở Canada. Số tin đồ Công giáo là nhiều nhất, chiếm 46,2% cư dân. Trong số này, các giáo phái phổ biến nhất là Giáo hội Công giáo (39,6%), Giáo hội Anh giáo Canada (17,8%) và Giáo hội Thống nhất Canada (9,6%).

KINH TẾ

Yukon-kinh-te-2

Ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong kinh tế của Yukon là khai thác (chì, kẽm, bạc, vàng, amiăng và đồng). Chính phủ đã mua lại mảnh đất từ Công ty Hudson Bay vào năm 1870 và tách nó ra khỏi Northwest Territories vào năm 1898 để đáp ứng nhu cầu cho chính quyền địa phương bởi cơn sốt vàng. Hàng ngàn người tìm vàng đã đến Yukon, mở ra một giai đoạn lịch sử cho Yukon được ghi lại thông qua các tác phẩm của các tác giả như Robert W. Service và Jack London. Ký ức về thời kỳ này và những ngày đầu của Cảnh sát Hoàng gia Canada, cũng như các kỳ quan danh lam thắng cảnh và cơ hội giải trí ngoài trời, khiến du lịch trở thành ngành công nghiệp quan trọng thứ hai trong lãnh thổ.

Sản xuất, bao gồm đồ nội thất, quần áo và thủ công mỹ nghệ có tầm quan trọng lớn, cùng với ngành thủy điện. Các ngành công nghiệp truyền thống như đánh bắt cá đã giảm. Tính đến năm 2012, số người lao động trong các cơ quan chính phủ khoảng 6.300 người trong tổng số 20.800 lao động.

Vào ngày 01/05/2015, Yukon đã sửa đổi Đạo luật Kinh doanh, trong nỗ lực thu hút nhiều lợi ích và nhân lực tham gia vào nền kinh tế.

Yukon-kinh-te-1

Phương châm du lịch của Yukon là “Lớn hơn cuộc sống”. Du lịch của Yukon phụ thuộc rất nhiều vào môi trường tự nhiên và có một số lượng lớn nhân sự phục vụ trong ngành du lịch.

Chính phủ Yukon bảo tồn một loạt các công viên quốc gia bao gồm: Công viên lãnh thổ đảo Herschel Qikiqtaruk, Công viên lãnh thổ Tombstone, Công viên câu cá Ni’iinlii’njik.

CHÍNH TRỊ

Yukon-chinh-tri

Vào thế kỷ 19, Yukon là một phần thuộc Northwest Territories được quản lý bởi Công ty Hudson Bay. Yukon bắt đầu có chính quyền địa phương vào năm 1895 khi trở thành một quận riêng biệt của Northwest Territories. Năm 1898, Yukon được chỉ định trở thành một lãnh thổ riêng biệt với ủy viên và một Hội đồng lãnh thổ riêng biệt.

Trước năm 1979, lãnh thổ được quản lý bởi ủy viên được bổ nhiệm bởi Bộ trưởng Bộ Các vấn đề người bản địa và Phát triển phương Bắc. Ủy viên có vai trò trong việc bổ nhiệm Hội đồng điều hành lãnh thổ. Hội đồng lãnh thổ được bầu có vai trò cố vấn hoàn toàn. Năm 1979, quyền hành được chuyển từ ủy viên và chính phủ liên bang sang cơ quan lập pháp lãnh thổ, cũng trong năm đó, hội đồng lập pháp đã thông qua việc thành lập một hệ thống đảng và chính phủ có trách nhiệm. Sự thay đổi này được thực hiện thông qua một bức thư của Jake Epp, Bộ Các vấn đề người bản địa và Phát triển phương Bắc, thay vì thông qua luật pháp chính thức.

GIAO THÔNG

Trước khi xuất hiện các hình thức giao thông hiện đại, sông và đèo là các tuyến giao thông chính cho người dân Tlingit ven biển buôn bán với người Athabascans tại đèo Chilkoot và đường mòn Dalton.

Sân bay quốc tế Erik Nielsen Whitehorse đóng vai trò là trung tâm vận tải hàng không, với các chuyến bay trực tiếp đến Vancouver, Kelowna, Calgary, Edmonton, Yellowknife, Inuvik, Ottawa, Dawson City, Old Crow và Frankfurt. Sân bay quốc tế Whitehorse cũng là trụ sở chính của Air North, Yukon’s Airline. Mọi cộng đồng Yukon đều được phục vụ bởi một sân bay.

Tuyến đường sắt đã ngừng hoạt động vào những năm 1980 với việc đóng cửa mỏ Faro. Ngày nay, tuyến đường sắt được chạy trong những tháng mùa hè phục vụ cho du lịch.

Yukon-giao-thong

Ngày nay, các tuyến đường bộ chính bao gồm Đường cao tốc Alaska, Đường cao tốc Klondike, Đường cao tốc Haines, và Đường cao tốc Dempster, tất cả đều được trải nhựa trừ Dempster. Các đường cao tốc khác có lưu lượng giao thông ít hơn bao gồm Đường cao tốc Robert Campbell và Đường mòn Silver. Du lịch hàng không là cách duy nhất để tiếp cận cộng đồng Old Crow ở phía bắc.

Từ thời kỳ cơn sốt vàng cho đến những năm 1950, những chiếc thuyền trên sông đã đi qua sông Yukon, chủ yếu là giữa Whitehorse và Dawson City, với một số người, họ tiến xa hơn đến Alaska, qua Biển Bering và các nhánh khác của sông Yukon như sông Stewart. Hầu hết các thuyền trên sông thuộc sở hữu của Công ty Hàng hải British -Yukon, một nhánh của White Pass và Yukon Route, cũng vận hành một tuyến đường sắt khổ hẹp giữa Skagway, Alaska và Whitehorse.

VĂN HÓA

Yukon-van-hoa-1

Tuy người bản địa chỉ chiếm 26% dân số, văn hóa thổ dân được phản ánh mạnh mẽ trong các lĩnh vực như thể thao mùa đông, các cuộc đua chó kéo xe Yukon Quest. Tương tự, chính quyền lãnh thổ cũng công nhận rằng các ngôn ngữ của First Nations và Inuit đóng vai trò quan trọng  trong di sản văn hóa của lãnh thổ.

Yukon cũng có một loạt các sự kiện văn hóa và thể thao thu hút các nghệ sĩ, cư dân địa phương và khách du lịch. Các sự kiện thường niên bao gồm Lễ hội văn hóa Adäka, Lễ hội âm nhạc thành phố Dawson, Lễ hội kể chuyện quốc tế Yukon, cuộc đua xe kéo chó Yukon Quest, Yukon Sourdough Rendezvous.

Với cơn sốt vàng Klondike, một số bài hát dân gian từ Yukon trở nên phổ biến, bao gồm “Rush to the Klondike” (1897, được viết bởi W.T. Diefenbaker), “The Klondike Gold Rush”, “I got the Klondike Fever” (1898 ) và “La Chanson du Klondyke”.

Cho đến nay, khía cạnh văn hóa và du lịch mạnh mẽ nhất của Yukon là di sản của thời cơn sốt vàng Klondik (1897 – 1899), đã truyền cảm hứng cho các nhà văn đương thời như Jack London, Robert W. Service và Jules Verne, và tiếp tục truyền cảm hứng về phim và trò chơi, chẳng hạn như Klondike Annie và The Yukon Trail của Mae West.