Map of Quebec
Flag_of_Quebec copy-01
Quebec-coat-of-arm

TÊN GỌI

Quebec-TEN-GOI

Cái tên Québec xuất phát từ từ kébec trong tiếng Algonquin có nghĩa là “nơi dòng sông hẹp lại”, ban đầu dùng để gọi khu vực xung quanh thành phố Quebec nơi sông Saint Lawrence thu hẹp lại. Những biến thể ban đầu trong cách đánh vần của tên bao gồm Québecq (Levasseur, 1601) và Kébec (Lescarbot, 1609). Nhà thám hiểm người Pháp Samuel de Champlain đã chọn tên Québec cho tiền đồn thuộc địa vào năm 1608. Tỉnh đôi khi được gọi là “tỉnh La belle” (Tỉnh xinh đẹp).

Tỉnh Quebec được thành lập theo Tuyên ngôn Hoàng gia năm 1763 sau khi Hiệp ước Paris chính thức chuyển thuộc địa Canada của Pháp cho Anh sau Chiến tranh Bảy năm. Tuyên bố đã giới hạn lãnh thổ tỉnh bang này ở một khu vực dọc theo bờ sông Saint Lawrence. Đạo luật Quebec năm 1774 đã mở rộng lãnh thổ của tỉnh bao gồm một phần Ngũ đại hồ và Thung lũng sông Ohio ở phía nam của Rupert’s Land. Hiệp ước Paris 1783 đã nhượng lại các vùng lãnh thổ phía nam Hồ Lớn cho Hoa Kỳ. Sau Đạo luật Hiến pháp năm 1791, lãnh thổ được phân chia thành Lower Canada (Quebec ngày nay) và Upper Canada (Ontario ngày nay), với mỗi quốc gia thành lập một hội đồng lập pháp. Năm 1840, 2 vùng này đã thành Canada East và Canada West sau khi Quốc hội Anh thống nhất Upper Canada và Lower Canada xác nhập thành Province of Canada. Lãnh thổ được chia lại thành các tỉnh Quebec và Ontario tại Liên bang năm 1867.

Vào năm 1870, Canada đã mua Rupert’s Land từ Công ty Hudson Bay và trong vài thập kỷ tiếp theo, Nghị viện Canada đã chuyển giao cho Quebec phần lãnh thổ gấp ba lần diện tích hiện có. Năm 1898, Nghị viện Canada đã thông qua Đạo luật mở rộng biên giới Quebec về phía bắc để bao gồm các vùng đất của thổ dân địa phương. Tiếp theo đó là việc bổ sung Quận Ungava thông qua Đạo luật mở rộng ranh giới Quebec năm 1912 đã bổ sung các vùng đất cực bắc của người Inuit để tạo ra lãnh thổ Quebec như hiện nay.

BIỂU TƯỢNG

Quebec-BIEU-TUONG

Năm 1939, chính phủ Quebec đã đơn phương phê chuẩn quốc huy để phản ánh lịch sử chính trị của Quebec: sự cai trị của Pháp (hoa huệ vàng trên nền xanh), sự cai trị của Anh (sư tử trên nền đỏ) và sự cai trị của Canada (lá phong) và với phương châm của Quebec bên dưới ” Je me souviens “. Je me souviens (“Tôi nhớ”) lần đầu tiên được chạm khắc dưới huy hiệu của mặt tiền Tòa nhà Quốc hội Quebec vào năm 1883. Đây là một phần chính thức của huy hiệu và khẩu hiệu chính thức kể từ năm 1978, thay thế cho “La belle pronvince “(tỉnh đẹp). Khẩu hiệu La belle province vẫn được sử dụng chủ yếu trong du lịch như một biệt danh cho tỉnh.

Hoa huệ, biểu tượng cổ xưa của chế độ quân chủ Pháp, lần đầu tiên xuất hiện tại Gaspésie năm 1534 cùng Jacques Cartier trong chuyến thám hiểm đầu tiên. Khi Samuel de Champlain thành lập thành phố Quebec vào năm 1608, con tàu của ông đã treo cờ một cây thánh giá trắng trên nền màu xanh. Lá cờ hiện tại với 4 hoa huệ màu trắng trên nền màu xanh với chữ thập màu trắng đã thay thế cờ của Vương quốc Anh trên Tòa nhà Quốc hội Quebec vào ngày 21/01/1948.

LỊCH SỬ

Quebec-lich-su-1

Người bản địa và sự khám phá của người châu Âu

Vào thời điểm tiếp xúc người châu Âu lần đầu tiên và sau đó trở thành thuộc địa, các quốc gia Algonquian, Iroquois và Inuit đã kiểm soát vùng đất mà ngày nay là Quebec. Người Algonquian sống du mục dựa trên săn bắn, hái lượm và câu cá. St. Lawrence Iroquoians, một nhánh của Iroquois, sống cuộc sống ổn định hơn, trồng ngô, đậu và bí trong vùng đất màu mỡ của Thung lũng St. Lawrence. Họ dường như được thay thế bởi quốc gia Mohawk. Người Inuit tiếp tục câu cá, săn cá voi và hải cẩu trong khí hậu Bắc cực khắc nghiệt dọc theo bờ biển vịnh Hudson và Ungava. Những người này buôn bán lông thú và thức ăn và đôi khi xảy ra tranh chấp bạo lực.

Quebec-lich-su-2

Tân Pháp (New France)

Khoảng năm 1522 – 1523, nhà hàng hải người Ý, Jac da Verrazzano đã thuyết phục vua Francis I của Pháp triển khai một cuộc thám hiểm để tìm một tuyến đường phía tây đến Cathay (Trung Quốc). Năm 1534, nhà thám hiểm Breton Jacques Cartier đã gắn một cây thánh giá ở bán đảo Gaspé và tuyên bố vùng đất thuộc Pháp nhân danh vua Francis I. Đó là tỉnh đầu tiên của New France. Tuy nhiên, những nỗ lực ban đầu của Pháp trong việc định cư khu vực này đã gặp thất bại. Tuy nhiên, các đội tàu đánh cá của Pháp tiếp tục đi đến bờ biển Đại Tây Dương và vào sông St. Lawrence, việc liên minh với First Nation trở nên quan trọng khi Pháp bắt đầu thuộc địa hóa vùng đất này.

Samuel de Champlain là thành viên của đoàn thám hiểm nước Pháp đi vào sông St. Lawrence năm 1603. Năm 1608, ông đứng đầu một nhóm thám hiểm và thành lập Thành phố Quebec với ý định biến khu vực này thành một phần thuộc địa của Pháp.

Sau năm 1627, Vua Louis XIII của Pháp cho phép Công ty New France giới thiệu hệ thống chủ quyền và cấm định cư những người ngoài đạo Công giá La Mã.

Chiến tranh bảy năm và thủ đô của New France

Các nhà chức trách ở New France mạng tay hơn trong việc trục xuất các thương nhân và thực dân Anh khỏi Thung lũng Ohio. Họ bắt đầu xây dựng một loạt các công sự để bảo vệ khu vực. Năm 1754, George Washington đã phát động một cuộc tấn công bất ngờ vào một nhóm binh sĩ Canada. Cuộc xâm lược biên giới này được gọi là vụ Jumonville tạo tiền đề cho Chiến tranh Bảy năm. Đến năm 1756, Pháp và Anh đã đối đấu với nhau trong cuộc chiến trên toàn thế giới. Năm 1758, người Anh tiến hành một cuộc tấn công vào New France bằng đường biển và chiếm pháo đài của Pháp tại Louisbourg.

Vào ngày 13/09/1759, lực lượng Tướng James Wolfe đã đánh bại Tướng Pháp Louis-Joseph de Montcalm trên trong trận Plain of Abraham bên ngoài Thành phố Quebec. Ngoại trừ các hòn đảo nhỏ Saint Pierre và Miquelon, nằm ngoài khơi Newfoundland, Pháp đã nhượng lại gần như toàn bộ lãnh thổ Bắc Mỹ của mình cho Vương quốc Anh thông qua Hiệp ước Paris năm 1763 để đổi lấy hòn đảo Guadeloupe để sau đó thu lợi từ ngành mía đường. Tuyên ngôn Hoàng gia Anh năm 1763 đổi tên Canada (một phần của New France) thành Tỉnh Quebec.

Ảnh hưởng từ Cách mạng Mỹ

Mặc dù Đạo luật Quebec không liên quan đến các sự kiện diễn ra ở Boston năm 1773 và không được coi là một trong những Đạo luật cưỡng chế. Thời điểm thông qua đạo luật này đã khiến thực dân Anh ở miền nam tin rằng đó là một phần của chương trình trừng phạt họ. Đạo luật Quebec đã gây ảnh hưởng đến các nhóm lợi ích ở thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ.

Những người trung thành với vương quốc Anh đã kiến nghị chính phủ sử dụng hệ thống pháp luật của Anh. Việc thành lập Upper Canada và Lower Canada vào năm 1791 cho phép hầu hết những người trung thành sống theo luật pháp và thể chế của Anh. Trong khi dân số Lower Canada nói tiếng Pháp có thể duy trì luật dân sự quen thuộc của Pháp và Công giáo.

Năm 1837, cư dân của Lower Canada – do Louis-Joseph Papineau và Robert Nelson lãnh đạo, đã thành lập một nhóm kháng chiến để tìm cách chấm dứt sự kiểm soát đơn phương của các thống đốc Anh. Họ đã đưa ra Tuyên ngôn về quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử và Tuyên ngôn độc lập cho Lower Canada năm 1838.

Vào những năm 1860, các đại biểu từ các thuộc địa của Bắc Mỹ thuộc Anh (Province of Canada, New Brunswick, Nova Scotia, Prince Edward Island và Newfoundland) đã tham gia một loạt các hội nghị để bàn bạc về việc xây dựng một liên minh mới. Hội nghị Charlottetown đầu tiên diễn ra tại Charlottetown, Prince Edward Island, sau đó là Hội nghị Quebec ở Thành phố Quebec, dẫn đến một phái đoàn đi London, vương quốc Anh để đưa ra một đề xuất cho một quốc gia liên bang mới tại Bắc Mỹ.

Quebec-lich-su-3

Kết quả cuối cùng, vào năm 1867, Quốc hội Vương quốc Anh đã thông qua Đạo luật Bắc Mỹ thuộc Anh, cho phép thành lập Liên minh giữa các tỉnh bang này. Province of  Canada được chia thành hai phần trước đó là các tỉnh Ontario (Upper Canada) và Quebec (Lower Canada). New Brunswick và Nova Scotia đã gia nhập với Ontario và Quebec để thành lập liên bang Canada. Các tỉnh bang khác sau đó gia nhập Liên bang, lần lượt từng tỉnh: Manitoba và Northwest Territories Bắc năm 1870, British Columbia năm 1871, Prince Edward Island năm 1873, Yukon năm 1898, Alberta và Saskatchewan năm 1905, Newfoundland năm 1949 và cuối cùng là Nunavut năm 1999.

Hai cuộc đại chiến thế giới

Khi Vương quốc Anh tuyên chiến vào ngày 04/08/1914, Canada tự động tham gia như một quốc gia độc lập. Khoảng 6.000 tình nguyện viên từ Quebec đã tham gia vào mặt trận châu Âu. Mặc dù phản ứng với tốt với lệnh bắt buộc nhập ngũ, nhưng không phổ biến tại Quebec. Cuộc khủng hoảng năm 1917 đã gây khơi dậy nhiều sự chia rẽ giữa những người Pháp và người Anh tại Canada.

Trong Thế chiến II, sự tham gia của Quebec là quan trọng hơn nhưng đã dẫn đến cuộc khủng hoảng năm 1944. Nhiều người Quebec đã chiến đấu chống lại phe phát xít từ năm 1939 đến năm 1945 với sự tham gia của nhiều trung đoàn người Pháp Canada như Les Fusiliers Mont-Royal, le Régiment de la Chaudière và nhiều hơn nữa.

Đảng Québécois và đoàn kết dân tộc

Năm 1977, chính phủ mới được bầu của Đảng Québécois là René Lévesque đã giới thiệu Hiến chương tiếng Pháp. Thường được gọi là Bill 101, nó định nghĩa tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức duy nhất của Quebec trong phần lãnh thổ của tỉnh bang.

Quebec-lich-su-4

Lévesque và nhóm của ông đã tham gia cuộc bầu cử Quebec năm 1970 và 1973 dưới danh nghĩa Quebec tách khỏi phần còn lại của Canada. Đảng đã thất bại trong việc giành quyền kiểm soát Nghị viện Quebec cả hai lần – mặc dù tỷ lệ phiếu bầu của nó tăng từ 23% lên 30% – và Lévesque đã bị đánh bại cả hai lần trong cuộc tranh cử. Trong chiến dịch bầu cử năm 1976, ông đã đưa ra thông điệp của mình bằng cách hứa hẹn một cuộc trưng cầu dân ý về liên kết chủ quyền thay vì tách biệt hoàn toàn, theo đó Quebec sẽ độc lập trong hầu hết các chức năng của chính phủ, nhưng vẫn có một số điểm chung, như tiền tệ. Vào ngày 15/11/1976, lần đầu tiên Lévesque và Đảng Québécois giành được quyền kiểm soát chính quyền tỉnh. Câu hỏi về sự liên kết chủ quyền đã được đặt ra trước các cử tri trong cuộc trưng cầu dân ý năm 1980 ở Quebec.

Tình hình đặc biệt

Do di sản và sự chiếm ưu thế của Pháp (duy nhất trong số các tỉnh bang của Canada), đã có cuộc tranh luận ở Canada về tình trạng đặc biệt (statut particulier) của Quebec và người dân, toàn bộ hoặc một phần. Những nỗ lực trước đây để sửa đổi hiến pháp Canada thừa nhận Quebec là một “xã hội riêng biệt” – đề cập đến sự độc đáo của tỉnh bang tại Canada về luật pháp, ngôn ngữ và văn hóa – đã không thành công. Tuy nhiên, chính phủ liên bang dưới thời Thống đốc Jean Chrétien đã chứng thực Quebec là một xã hội riêng biệt.

Vào ngày 30/10/2003, Nghị viện Quebec đã bỏ phiếu nhất trí để khẳng định “rằng người dân Québec tạo thành một quốc gia”. Vào ngày 27/11/2006, Nghị viện đã thông qua quyết định mang tính biểu tượng khi Thủ tướng Stephen Harper tuyên bố rằng “Chúng tôi nhận ra Quebec được tạo thành một quốc gia trong một Canada thống nhất”.

ĐỊA LÝ

Quebec-dia-ly-1

Nằm ở phía đông của Canada và (từ góc độ lịch sử và chính trị) một phần của trung tâm Canada, Quebec chiếm một lãnh thổ gần gấp ba lần Pháp hoặc tỉnh bang Texas của Hoa Kỳ, phần lớn dân cư rất thưa thớt. Địa hình t rất khác nhau từ vùng này sang vùng khác địa hình, khí hậu (vĩ độ và cao độ) và sự tiếp xúc vớ mặt nước. Saint Lawrence Lowland và Appalachian là hai khu vực địa hình chính ở miền nam Quebec.

Quebec có trữ lượng nước ngọt lớn nhất thế giới, chiếm 12% diện tích lãnh thổ tỉnh bang. Có 3% nước ngọt tái tạo của thế giới, trong khi đó chỉ chiếm có 0,1% dân số thế giới. Hơn nửa triệu hồ và 4.500 con sông đổ vào Đại Tây Dương,  Vịnh Saint Lawrence, Bắc Băng Dương, vịnh James, vịnh Hudson và Ungava. Hồ chứa Caniapiscau là hồ chứa lớn nhất, được tạo ra trong quá trình thực hiện Dự án thủy điện James Bay. Hồ Mistassini là hồ tự nhiên lớn nhất ở Quebec.

Điểm cao nhất của Quebec là Mont d’Iberville 1.652m, được gọi bằng tiếng Anh là Núi Caubvick, nằm ở biên giới với Newfoundland and Labrador ở phía đông bắc của tỉnh, trong dãy núi Torngat.

Nhìn chung, khí hậu Quebec lạnh và ẩm. Khí hậu của tỉnh chủ yếu ảnh hưởng bởi vĩ độ, biển và độ cao. Theo phân loại khí hậu Köppen, Quebec có ba vùng khí hậu chính. Phía nam và phía tây Quebec, bao gồm hầu hết các trung tâm dân cư lớn và khu vực phía nam vĩ tuyến 51, có khí hậu lục địa ẩm ướt với bốn mùa rõ rệt, mùa hè nóng và ẩm, mùa đông rất lạnh và có tuyết. Do ảnh hưởng của cả hai hệ thống bão từ Bắc Mỹ và Đại Tây Dương, lượng mưa rất lớn trong suốt cả năm, với hầu hết các khu vực nhận được lượng mưa hơn 1000mm, bao gồm hơn 300cm tuyết rơi ở nhiều khu vực.

Quebec-dia-ly-2

NHÂN KHẨU HỌC

Với tỷ lệ trẻ em/phụ nữ là 1,69, tỷ lệ sinh năm 2011 của Quebec cao hơn tỷ lệ chung của Canada là 1,61 và cao hơn so với thời điểm thế kỷ 21. Tuy nhiên, nó vẫn thấp hơn mức sinh thay thế là 2,1. Mặc dù Quebec chỉ có 24% dân số Canada, nhưng số lượng con nuôi quốc tế tại Quebec là cao nhất trong tất cả các tỉnh của Canada.

Tuổi thọ ở Quebec đạt mức cao trong năm 2011, với tuổi thọ là 78,6 tuổi đối với nam và 83,2 tuổi đối với nữ; đây được xếp hạng là tuổi thọ dài thứ ba trong số các tỉnh của Canada, sau các tỉnh British Columbia và Ontario.

Quebec-nhan-khau-hoc

Quebec là tỉnh bang duy nhất trong số các tỉnh có người theo đạo Công giáo cao nhất. Đây là một di sản của thời kỳ thuộc địa khi chỉ có người Công giáo mới được phép định cư ở New France. Cuộc điều tra dân số năm 2001 cho thấy dân số là 83,4% Công giáo, 4,7% Tin lành.

Ngôn ngữ chính thức của Quebec là tiếng Pháp. Quebec là tỉnh duy nhất của Canada có dân số chủ yếu sử dụng tiếng Pháp.

KINH TẾ

Quebec có một nền kinh tế phát triểm và thị trường mở cửa. Năm 2019, GDP đạt xấp xỉ 43.000 đô la  ở hạng mục sức mua của thị trường, tương đương với các nước Nhật, Ý và Tây Ban Nha, nhưng thấp hơn mức trung bình ở Canada. Nền kinh tế Quebec được xếp hạng nền kinh tế lớn thứ 37 trên thế giới, xếp ngay sau Hy Lạp và thứ 28 GDP trên đầu người.

Quebec-kinh-te-1

Nền kinh tế của Quebec chiếm 20,36% tổng GDP của Canada. Giống như hầu hết các nước công nghiệp hóa, nền kinh tế của Quebec chủ yếu dựa vào lĩnh vực dịch vụ. Theo truyền thống, nền kinh tế của Quebec đã được thúc đẩy bởi nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, cơ sở hạ tầng phát triển. GDP của tỉnh năm 2010 là 319.348 tỷ đô la khiến Quebec trở thành nền kinh tế lớn thứ hai ở Canada.

Tỷ lệ nợ trên GDP của tỉnh đạt đỉnh 50,7% trong giai đoạn 2012 – 2015 và dự kiến sẽ giảm xuống còn 33,8% vào giai đoạn 2023 – 2024. Xếp hạng tín dụng của Quebec hiện là Aa2 theo khảo sát của Moody. Vào tháng 6.2017, S&P đã đánh giá Quebec là mức rủi ro tín dụng là AA, lần đầu tiên vượt qua Ontario.

Quebec cũng dẫn đầu trong một số ngành công nghiệp bao gồm hàng không vũ trụ, công nghệ thông tin, phần mềm và các phương tiện truyền thông. Khoảng 60% sản lượng của ngành hàng không vũ trụ Canada là từ Quebec, doanh thu đạt 12,4 tỷ đô la vào năm 2009. Quebec là một trong những khu vực có nhiều công ty công nghệ cao hàng đầu của Bắc Mỹ. Khu vực này bao gồm khoảng 7.300 doanh nghiệp và có số người lao động lên đến hơn 145.000 người.

Ngành công nghiệp khai thác chiếm 6,3% GDP của Quebec. Số người lao động trong lĩnh vực này là 50.000 người làm việc trong 158 công ty.

Các ngành công nghiệp giấy và bột giấy tạo ra các lô hàng trị giá hơn 14 tỷ đô la mỗi năm. Ngành lâm sản đứng thứ hai về xuất khẩu, với sản lượng trị giá gần 11 tỷ USD. Ngành lâm nghiệp đã chậm lại trong những năm gần đây vì tranh chấp trong khai thác gỗ. Ngành công nghiệp này có hơn 68.000 người lao động. Ngành công nghiệp này chiếm 3,1% GDP của Quebec.

Ngành nông nghiệp thực phẩm đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của Quebec, với thịt và các sản phẩm từ sữa là hai ngành chính. Nông nghiệp chiếm 8% GDP của Quebec và tạo ra 19,2 tỷ đô la. Ngành công nghiệp này tạo ra 487.000 việc làm trong nông nghiệp, thủy sản, sản xuất thực phẩm, đồ uống và phân phối thuốc lá và thực phẩm.

CHÍNH TRỊ

Quebec-chinh-tri

Quận công đại diện cho Nữ hoàng Canada và thực hiện hầu hết các công việc của hoàng gia ở tỉnh. Người đứng đầu chính phủ là thống đốc tỉnh bang, là người lãnh đạo đương nhiệm của đảng lớn nhất trong Nghị viện, từ đó bổ nhiệm Hội đồng điều hành tỉnh bang Quebec.

Cho đến năm 1968, cơ quan lập pháp Quebec vẫn là cơ quan lưỡng viện.

Quebec có các phân khu ở cấp khu vực, đô thị và địa phương. Không bao gồm các đơn vị hành chính dành cho vùng đất của thổ dân, các loại phân khu chính là:

– Ở cấp độ khu vực: 17 khu vực (hạt).

– Ở cấp độ đô thị: 86 quận và 2 đại đô thị.

– Ở cấp đô địa phương: 1,117 đô thị địa phương và các nhóm khác.

GIAO THÔNG VẬN TẢI

Phát triển và bảo trì hệ thống giao thông đường bộ ở Canada được thực hiện bởi Bộ giao thông Quebec. Các tổ chức khác, chẳng hạn như Cảnh sát biển Canada và Cục Kiểm soát không lưu nội địa Canada, cung cấp dịch vụ tương tự cho vận tải đường biển và đường hàng không.

Mạng lưới đường Quebec được quản lý Tập đoàn bảo hiểm ô tô Quebec bao gồm khoảng 185.000 km đường cao tốc và đường bộ địa phương, hầm vượt núi… Ngoài ra, Quebec có gần 12.000 cây cầu, đường hầm, tường chắn và các công trình khác như Cầu Quebec, Cầu Laviolette và Đường hầm Cầu Louis-Hippolyte Lafontaine.

Trong khu vực sông St. Lawrence có tám cảng nước sâu để trung chuyển hàng hóa. Năm 2003, 3886 tàu chở hàng và 9,7 triệu tấn hàng hóa đã đi qua Quebec trên St. Lawrence Seaway.

Quebec-giao-thong

Liên quan đến vận tải đường sắt, Quebec có 6.678 km đường sắt được tích hợp trong mạng lưới rộng lớn ở Bắc Mỹ. Mặc dù chủ yếu dành cho việc vận chuyển hàng hóa thông qua các công ty như Canada National và Canadin Pacific, mạng lưới đường sắt Quebec cũng được sử dụng bởi hành khách đến các thành phố, tỉnh bang khác thông qua Via Rail Canada và Amtrak.

Mạng lưới phục vụ hàng không bao gồm 43 sân bay thương mại. Ngoài ra, Chính phủ Quebec cũng sở hữu các sân bay riêng và sân bay trực thăng để tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ địa phương tới các cộng đồng ở vùng Basse-Côte-Nord và phía bắc.

Nhiều mạng lưới giao thông khác chạy khắp tỉnh Quebec, bao gồm đường mòn đi bộ, đường mòn trượt tuyết và đường dành cho xe đạp. Green Road là con đường lớn nhất với chiều dài gần 4.000 km.

NĂNG LƯỢNG

Quebec đã được mô tả là một siêu cường năng lượng sạch. Cân bằng năng lượng của Quebec đã trải qua một sự thay đổi lớn trong 30 năm qua. Năm 2008, điện được xếp hạng là dạng năng lượng chính được sử dụng ở Quebec (41,6%), tiếp theo là dầu (38,2%) và khí đốt tự nhiên (10,7%). Quebec là nhà sản xuất thủy điện lớn thứ tư trên thế giới sau Trung Quốc, Brazil và Hoa Kỳ và hầu như chỉ phụ thuộc (96% vào năm 2008) về nguồn năng lượng tái tạo này cho nhu cầu điện.

VĂN HÓA

Quebec-van-hoa-1

Quebec là trung tâm của văn hóa nói tiếng Pháp ở Bắc Mỹ. Văn hóa của Quebec là một biểu tượng của những quan điểm riêng biệt. Chủ nghĩa dân tộc Quebec đã là một trong những biểu hiện của quan điểm này. Văn hóa Quebec pha trộn giữa nguồn gốc lịch sử và những di sản của thổ dân, cũng như sự đóng góp của những người nhập cư, và cũng chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ những dân tộc khác tại Bắc Mỹ nói tiếng Anh.

Một số lượng lớn các tổ chức chính phủ và tổ chức phi chính phủ hỗ trợ hoạt động văn hóa ở Quebec. Conseil des Arts et des lettres du Québec (CALQ) là một sáng kiến của Bộ Văn hóa và Truyền thông (Quebec). Tổ chức này hỗ trợ sáng tạo, đổi mới và tổ chức các buổi triển lãm quốc tế cho tất cả các lĩnh vực văn hóa của Quebec. Société de développement des entre ngạc Culturelles (SODEC) hoạt động để thúc đẩy và tài trợ cho các cá nhân làm việc trong ngành văn hóa. Prix du Québec là một giải thưởng được trao bởi chính phủ nhằm mang lại sự khác biệt và danh dự cao nhất cho các cá nhân thể hiện thành tích đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa tương ứng.

Quebec-van-hoa-2

Nhiều điệu nhảy, chẳng hạn như điệu nhảy jig, quadrille, điệu nhảy reel và line, phát triển trong các lễ hội kể từ những ngày đầu thuộc địa. Nhiều nhạc cụ phổ biến hơn trong văn hóa của Quebec: fiddle, sppons, jaw harp hay accordion. Podorybeatie là một đặc trưng của âm nhạc Quebec truyền thống và có nghĩa là tạo ra nhịp điệu bằng đôi chân. Âm nhạc truyền thống Quebec hiện được cung cấp bởi các nhóm đương đại khác nhau được thấy chủ yếu trong lễ Giáng sinh, đêm giao thừa, ngày lễ Quebec và nhiều lễ hội địa phương.