Bản đồ của Newfoundland và Labrador
Newfoundland-Flag
Coat_of_Arms_of_Newfoundland_and_Labrador-01

TÊN GỌI

Newfoundland bắt nguồn từ tiếng Anh là New Found Land nghĩa là vùng đất mới. Nguồn gốc của từ Labrador có thể được cho là bắt nguồn từ João Fernandes Lavrador, tên của một nhà thám hiểm hàng hải người Bồ Đào Nha và là người phát hiện ra khu vực này.

LỊCH SỬ

Thời kỳ tiền thuộc địa

Sự cư trú của con người tại Newfoundland and Labrador có thể là từ khoảng 9.000 năm TCN. Thời kỳ thịnh vượng có thể là khoảng những năm 7.000 TCN đến năm 1.500 TCN dọc theo miền duyên hải Đại Tây Dương Bắc Mỹ.

Các dân tộc cổ đại hàng hải dần bị thay thế bằng những người thuộc văn hóa Dorset (Eskimo cổ đại muộn), họ chiếm cứ được Port au Choix. Số lượng các di chỉ của họ phát hiện tại Newfoundland biểu thị rằng họ là nhóm thổ dân đông nhất tại đây. Thời kỳ thịnh vượng của họ khoảng những năm 2.000 TCN đến năm 1200.

Người Inuit hầu hết được phát hiện tại Labrador, họ là hậu duệ của thứ mà các nhà nhân loại học gọi là văn hóa Thule, họ nổi lên từ miền tây Alaska vào khoảng năm 1000 và bành trướng về phía đông, họ đã đến Labrador vào giai đoạn khoảng năm 1300 đến năm 1500.

Tiếp xúc với người châu Âu

Theo mô tả trong các saga Iceland của người Viking (Norse) thì người châu Âu đã tiếp cận vùng đất này từ 1000 năm trước. Năm 1001, saga đề cập đến việc Leif Ericson đã đổ bộ tại ba nơi ở phía tây, hai nơi đầu là Helluland (có thể là đảo Baffin) và Markland (có thể là Labrador). Địa điểm đổ bộ thứ ba là Vinland (có thể là Newfoundland). Bằng chứng khảo cổ học của một khu dân cư Norse được phát hiện tại L’Anse aux Meadows, Newfoundland, được UNESCO liệt vào danh sách di sản thế giới vào năm 1978.

newfoundland-lich-su-viking
newfoundland-lich-su-cabot-nguoi-phap

Năm 1496, John Cabot được Quốc vương Anh Henry VII ban đặc quyền đi thám hiểm và đến ngày 24 tháng 6 năm 1497 ông ta đổ bộ lên mũi Bonavista. Năm 1499 và 1500, các thủy thủ người Bồ Đào Nha João Fernandes Lavrador và Pêro de Barcelos khám phá và lập bản đồ bờ biển. Dựa theo Hiệp ước Tordesillas, Quân chủ Bồ Đào Nha yêu sách về quyền lãnh thổ tại khu vực mà John Cabot đến vào năm 1497 – 1498. Sau đó, vào năm 1501 và 1502 anh em Corte-Real khám phá Newfoundland và Labrador, yêu sách chúng là bộ phận của Đế quốc Bồ Đào Nha. Humphrey Gilbert theo lệnh Nữ vương Anh Elizabeth I, đã đổ bộ tại St. John’s vào tháng 8 năm 1583, và chính thức nắm quyền sở hữu đảo.

Thuộc địa Newfoundland

Năm 1583, Newfoundland trở thành thuộc địa đầu tiên của Anh tại Bắc Mỹ và là một trong các thuộc địa thường xuyên đầu tiên của Anh tại Tân thế giới. khi Humphrey Gilbert yêu sách lãnh thổ cho Nữ vương Elizabeth. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây bất hòa với người Pháp và người Bồ Đào Nha tại Tân Thuộc địa. Đỉnh điểm là chiến tranh 7 năm giữa Anh – Pháp và cả Tây Ban Nha, chiến thắng trên toàn cầu của Anh khẳng định rằng không quốc gia nào ngoài Anh có thể tiếp cận Newfoundland. Trận Signal Hill diễn ra tại Newfoundland vào năm 1762, khi một đạo quân Pháp đổ bộ và nỗ lực chiếm đảo, song bị người Anh đẩy lui.

Theo Hiệp ước Utrecht (1713), ngư dân Pháp có quyền cập bờ và xử lý cá tuyết trên “French Shore” tại bờ biển phía tây của đảo, người Pháp từ bỏ quyền lợi của họ vào năm 1904. Năm 1854, Chính phủ Anh cho lập chính phủ chịu trách nhiệm của Newfoundland. Năm 1855, Philip Francis Little, một cư dân bản địa của Đảo Prince Edward, giành chiến thắng đa số trong nghị viện trước Hugh Hoyles và những người Bảo thủ, thành lập chính phủ đầu tiên, tồn tại từ năm 1855 đến năm 1858. Newfoundland bác bỏ liên bang hóa với Canada trong tổng tuyển cử năm 1869. Thủ tướng Canada John Thompson tiến rất gần đến dàn xếp Newfoundland gia nhập liên bang vào năm 1892.

Thế kỷ 20

Newfoundland duy trì là một thuộc địa cho đến khi đạt được vị thế quốc gia tự trị vào năm 1907. Một quốc gia tự trị là bộ phận của Đế quốc Anh hoặc Thịnh vượng chung Anh, và Quốc gia tự trị Newfoundland tương đối tự trị khỏi quyền quản lý của Anh.

Do gánh nặng nợ cao, thu nhập giảm thiểu, giá cá sụt giảm, cơ quan lập pháp Newfoundland tự bỏ phiếu ngưng tồn tại vào năm 1933, để đổi lấy các đảm bảo cho vay từ Quân chủ và một hứa hẹn sẽ được tái lập. Ngày 16 tháng 2 năm 1934, Hội đồng Chính phủ tuyên thệ, kết thúc 79 năm chính phủ chịu trách nhiệm. Hội đồng gồm bảy cá nhân do Chính phủ Anh bổ nhiệm. Trong vòng 15 năm không có cuộc bầu cử nào diễn ra, và không triệu tập cơ quan lập pháp.

Sự thịnh vượng trở lại cùng Chiến tranh thế giới thứ hai, điều này kích thích kết thúc Hội đồng, và phục hồi chính phủ chịu trách nhiệm. Chính phủ Anh thiết lập Hội nghị Quốc gia vào năm 1946, hội nghị gồm các đại biểu trên toàn lãnh thổ, chính thức được giao nhiệm vụ cố vấn về tương lai của Newfoundland. Một phái đoàn được cử đến Ottawa để khảo sát gia nhập Canada. Động thái đầu tiên thất bại, song Hội nghị sau đó quyết định cử các phái đoàn đến cả London và Ottawa để tìm giải pháp thay thế.

Cuộc trưng cầu dân ý đầu tiên diễn ra vào ngày 3 tháng 6 năm 1948; 44,5% cử tri bỏ phiếu cho chính phủ chịu trách nhiệm, 41,1% bỏ phiếu cho liên bang hóa với Canada, trong khi 14,3% bỏ phiếu cho Hội đồng Chính phủ. Do không có lựa chọn nào giành được quá 50%, một cuộc trưng cầu dân ý thứ nhì được tổ chức vào ngày 22 tháng 7 năm 1948 với chỉ hai lựa chọn. Kết quả chính thức của cuộc trưng cầu dân ý này là 52,3% bỏ phiếu cho liên bang hóa với Canada và 47,7% bỏ phiếu cho chính phủ trách nhiệm (độc lập).

newfoundland-lich-su-gia-nhap-lien-bang

Sau trưng cầu, một phái đoàn gồm bảy người được thống đốc của Anh chọn đến đàm phán với Canada nhân danh Newfoundland. Sau khi sáu trong số bảy thành viên của phái đoàn ký kết, Chính phủ Anh thông qua Đạo luật Bắc Mỹ thuộc Anh 1949 qua Quốc hội. Newfoundland chính thức gia nhập Canada vào ngày 31 tháng 3 năm 1949.

ĐỊA LÝ

Newfoundland và Labrador là tỉnh cực đông của Canada, nằm tại góc đông bắc của Bắc Mỹ. Eo biển Belle Isle phân tách tỉnh thành hai khu vực địa lý, Labrador là một lãnh thổ lớn liên kết với đại lục Canada, còn Newfoundland là một đảo tại Đại Tây Dương.Tỉnh cũng có hơn 7.000 đảo nhỏ. Newfoundland có hình dạng giống như một tam giác, mỗi cạnh dài khoảng 400 km, và có diện tích là 108.860 km2 Newfoundland và các đảo nhỏ có liên kết với nó có tổng diện tích là 111.390 km2.

Phần phía tây của Labrador giáp với tỉnh Québec, đường biên giới cũng là đường phân thủy của bán đảo Labrador. Diện tích của Labrador (gồm các đảo nhỏ có liên kết) là 294.330 km2.

Newfoundland_and_Labrador_Köppen-01

Labrador là bộ phận cực đông của khiến Canada, một khu vực rộng lớn gồm đá biến chất cổ bao trùm phần lớn miền đông bắc của Bắc Mỹ. Các mảng kiến tạo va chạm hình thành phần lớn địa chất của Newfoundland. Vườn quốc gia Gros Morne có danh tiếng do là một ví dụ nổi bật về kiến tạo học, và do vậy được xếp là một di sản thế giới. Dãy Long Range trên duyên hải phía tây của Newfoundland là phần mở rộng cực đông bắc của dãy Appalachian.

Newfoundland và Labrador có nhiều vùng khí hậu khác nhau do lãnh thổ trải dài trên nhiều vĩ tuyến, gió tây thịnh hành, các hải lưu lạnh và các yếu tố địa phương như núi và đường bờ biển. Tỉnh được phân thành sáu kiểu khí hậu, song theo cách phân chia rộng hơn thì Newfoundland có kiểu hình khí hậu với mùa hè mát của khí hậu lục địa ẩm, chịu tác động lớn của hải dương do không nơi nào trên đảo cách biển quá 100 km. Miền bắc Labrador được phân loại là có một khí hậu lãnh nguyên vùng cực, miền nam Labrador có một khí hậu cận Bắc cực.

NHÂN KHẨU HỌC

Hơn một nửa dân số Newfoundland and Labrador cư trú tại bán đảo Avalon của đảo Newfoundland, là nơi có thủ phủ St. John’s và là điểm định cư lịch sử ban đầu.

Theo cuộc điều tra năm 2011, giáo phái tôn giáo lớn nhất Giáo hội Công giáo La Mã với 35,8% dân số toàn tỉnh.

Theo điều tra nhân khẩu Canada năm 2001, dân tộc lớn nhất tại Newfoundland and Labrador là người Anh (39,4%), tiếp theo là người Ireland (19,7%), người Scotland (6,0%), người Pháp (5,5%) và người Da đỏ (3,2%).

newfoundland nhan khau hoc 2 scaled e1584882049515

KINH TẾ

Kinh tế Newfoundland và Labrador trải qua đình trệ trong nhiều năm sau sự sụp đổ của đánh bắt cá tuyết hồi đầu thập niên 1990, tỉnh phải chịu tỷ lệ thất nghiệp cao kỷ lục và dân số giảm khoảng 60.000. Do bùng nổ trong lĩnh vực năng lượng và tài nguyên, kinh tế tỉnh có chuyển biến lớn khi bước sang thế kỷ 21.Tỷ lệ thất nghiệp giảm, dân số ổn định và tăng trưởng vừa phải. Tỉnh đạt mức thặng dư kỷ lục, giải thoát khỏi tình trạng một tỉnh “không có gì”.

Fishing boats at dock, Rocky Harbor, Gros Morne National Park, Newfoundland And Labrador, Canada

Ngư nghiệp vẫn là một bộ phận quan trọng trong kinh tế tỉnh, bao gồm đánh bắt và thu hoạch các loại cá như cá tuyết, cá êfin, cá bơn lưỡi ngựa, cá trích, cá thu,cá hồi, các loài giáp xác như cua, tôm, nghêu, hải cẩu, trai.

Các ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong GDP, đặc biệt là dịch vụ tài chính, chăm sóc y tế và hành chính công. Các ngành kinh tế quan trọng khác là khai mỏ, sản xuất dầu và chế tạo. Ngành khai thác mỏ tại Labrador phát triển mạnh với quặng sắt tại Wabush, Labrador City, niken tại Voisey’s Bay, mỏ đồng, kẽm, bạc và vàng tại Duck Pond. Dầu mỏ cũng đóng góp phần lớn vào doanh thu của tỉnh với sản lượng cung cấp và dự trữ lớn dự kiến lên đến gần 3 tỷ thùng.

newfoundland-kinh-te

Nông nghiệp tại Newfoundland hạn chế tại các khu vực phía nam của St.John’s, Cormack, Wooddale, các khu vực gần Musgravetown và tại thung lũng Codroy. Khoai tây, cải củ Thụy Điển, cải củ turnip, cà rốt và cải bắp được trồng để đáp ứng nhu cầu địa phương. Nuôi gia cầm lấy thịt và trứng cũng tồn tại. Việt quất xanh, Vaccinium vitis-idaea và Rubus chamaemorus dại được thu hoạch thương mại và sử dụng trong làm mứt và rượu vang. Sản xuất bơ sữa là một bộ phận lớn khác trong nông nghiệp tỉnh.

Tourist with dog in countryside

Du lịch cũng đóng góp đáng kể cho kinh tế tỉnh, vào năm 2006 có gần 500.000 du khách từ nơi khác đến Newfoundland and Labrador, chi tiêu ước tính 366 triệu CAD. Du lịch phổ biến nhất trong các tháng từ 6-9.

Newfoundland là địa điểm du lịch với nhiều cảnh quan thiên nhiên đặc biệt của vùng cực và vùng cận cực. 

CHÍNH QUYỀN TỈNH BANG

newfoundland-chinh-tri

Chính trị của Newfoundland and Labrador tổ chức một nghị viện nằm trong cấu trúc của chế độ quân chủ lập hiến. Chế độ quân chủ tại Newfoundland và Labrador là cơ sở cho các nhánh hành pháp, lập pháp, và tư pháp. Quân chủ của tỉnh là nữ hoàng Anh Elizabeth II, bà cũng là quân chủ của 15 quốc gia khác, 9 tỉnh còn lại va liên bang Canada. Người đại diện cho Nữ hoàng là Quận công Newfoundland and Labrador, tiến hành hầu hết các trách nhiệm quân chủ tại Newfoundland and Labrador.

Trên thực tế, quân chủ và quận công bị hạn chế trong việc tham dự trực tiếp vào bất kỳ lĩnh vực quản trị nào. Quyền lực hành pháp do Hội đồng Hành pháp điều khiển, đây là một ủy ban gồm các giám đốc sở, ban, ngành chịu trách nhiệm trước một Nghị viện và được tuyển cử, đứng đầu là Thống đốc tỉnh bang. Nhằm đảo bảo sự ổn định của chính phủ, quận công sẽ bổ nhiệm thống đốc tỉnh bang là lãnh đạo chính đảng giành đa số ghế trong Nghị viện. Lãnh đạo đảng có số ghế đông thứ nhì thường trở thành lãnh đạo phe đối lập và nằm trong một hệ thống nghị viện đối địch nhằm duy trì kiểm tra đối với chính phủ.

HẠ TẦNG GIAO THÔNG

Trong nội tỉnh, Sở Giao thông và công trình Newfoundland and Labrador vận hành 15 tuyến xe buýt, phà chở khách và chở hàng liên kết các cộng đồng khác nhau dọc theo đường bờ biển của tỉnh. Newfoundland and Labrador phát triển dịch vụ phà chuyên chở giữa lục địa với các đảo như Marine Atlantic, MV Sir Robert Bond, MV Apollo.

Sân bay quốc tế St. John’s và sân bay quốc tế Gander là hai sân bay duy nhất phục vụ tỉnh, chúng thuộc hệ thống sân bay quốc gia Canada. Sân bay quốc tế St. John’s phục vụ gần 1,2 triệu hành khách trong năm 2008 và là sân bay bận rộn thứ 11 tại Canada.

newfoundland giao thong scaled
newfoundland giao thong 2 scaled

VĂN HÓA

newfoundland van hoa scaled

Di sản âm nhạc dân gian Newfoundland và Labrador dựa trên các truyền thống Ireland, Anh và Scotland vốn được đưa đến từ nhiều thế kỷ trước. Mặc dù cũng chịu ảnh hưởng từ nhạc Celtic tương tự như Nova Scotia và Prince Edward Island, Newfoundland and Labrador mang tính Ireland hơn là Scotland và có nhiều yếu tố dung nạp từ âm nhạc Anh và Pháp hơn các tỉnh này.

Phần lớn âm nhạc khu vực tập trung vào truyền thống hàng hải sống động tại đây, và có các bài hò biển và các bài hát đi thuyền khác. Một số nhạc sĩ truyền thống hiện đại là Great Big Sea, The Ennis Sisters, Shanneyganock, Sharecroppers, Ron Hynes, và The Navigators. Newfoundland và Labrador có một văn hóa thể thao phần nào khác biệt so với phần còn lại của Canada, một phần là do có lịch sử kéo dài tách biệt với phần còn lại của Canada và nằm dưới quyền cai trị của Anh. Tuy nhiên, khúc côn cầu trên băng vẫn phổ biến. Bóng đá và rugby liên hiệp đều phổ biến hơn tại Newfoundland và Labrador so với phần còn lại của Canada nói chung.