Map of Manitoba
Flag_of_Manitoba
Coat of arms of Manitoba

TÊN GỌI

Cái tên Manitoba được cho là bắt nguồn từ các ngôn ngữ Cree, Ojibwe hoặc Assiniboine . Tên này bắt nguồn từ từ manitou-wapow trong ngôn ngữ Cree hoặc manidoobaa trong tiếng Ojibwa, cả hai đều có nghĩa là “eo biển của Manitou, linh hồn vĩ đại”, một nơi đề cập đến cái mà ngày nay được gọi là The Narbow ở trung tâm của hồ Manitoba . Nó cũng có thể là từ từ minnetoba trong tiếng Assiniboine có nghĩa là “Hồ trên thảo nguyên”.  Hồ được các nhà thám hiểm người Pháp gọi là Lac des Prairies. Thomas Spence đã chọn tên để chỉ một nước cộng hòa mới mà ông đề xuất cho khu vực phía nam của hồ. Lãnh đạo của người bản địa Métis là Louis Riel cũng chọn tên này và nó đã được chấp nhận tại Ottawa theo Đạo luật Manitoba năm 1870.

LỊCH SỬ

Manitoba-lich-su-2

Vùng đất của First Nation và sự định cư của người châu Âu

Vùng đất Manitoba ngày nay có người sinh sống trong cộng đồng First Nation sau kỷ băng hà cuối cùng vào khoảng 1a0.000 năm trước, vùng đất đầu tiên cóngười sinh sống là khu vực Turtle Mountain. Các dân tộc Ojibwe, Cree, Dene, Sioux, Mandan và Assiniboine đã thành lập các khu vực định cư lâu dài và các bộ lạc khác đã vào khu vực này để buôn bán. Ở phía bắc Manitoba, thạch anh được khai thác để làm đầu mũi tên. Nông trại đầu tiên ở Manitoba là dọc theo sông Red, nơi ngô và các loại hạt giống khác được trồng trước khi họ có những liên hệ đầu tiên với người châu Âu.

Năm 1611, Henry Hudson, một trong những người châu Âu đầu tiên đi thuyền vào vùng đất mà ngày nay là Vịnh Hudson. Ông bị thủy thủ đoàn bỏ rơi. Người châu Âu đầu tiên đến vùng trung nam Manitoba ngày nay là Sir Thomas Button, người đã ngược dòng Nelson đến hồ Winnipeg vào năm 1612 trong một nỗ lực  để giải cứu Hudson nhưng không thành công. Tàu Nonsuch của Anh vào vịnh Hudson giai đoạn 1668-1669 và trở thành tàu thương mại đầu tiên đến khu vực này. Chuyến đi đó đã dẫn đến sự hình thành của Công ty Hudson Bay, nơi mà chính phủ Anh đã giành quyền kiểm soát tuyệt đối. Vùng đất này được đặt tên là Rupert’s Land, theo tên Hoàng tử Rupert, người đã tài trợ cho Công ty Hudson Bay. Nhà máy York được thành lập năm 1684 sau khi trụ sở ban đầu của Công ty Hudson Bay, trụ sở Fort Nelson được xây dựng năm 1682 bị phá hủy bởi các thương nhân người Pháp.

Manitoba-lich-su-1

Pierre Gaultier de Varennes, sieur de La Vérendrye đã đến thung lũng sông Red vào những năm 1730 để giúp mở rộng thị trường mua bán của Pháp. Khi các nhà thám hiểm người Pháp khám phá ra khu vực, Công ty North West có trụ sở tại Motreal đã bắt đầu giao dịch với người dân địa phương. Cả công ty North West và Công ty Hudson Bay đều xây dựng trụ sở mua bán lông thú, hai công ty đã cạnh tranh ở miền nam Manitoba, đôi khi xảy ra những tranh chấp ở mức bạo lực cho đến khi sát nhập vào năm 1821.

Vương quốc Anh bảo toàn lãnh thổ của mình vào năm 1763 sau chiến thắng của họ trước quân Pháp ở mặt trân Bắc Mỹ, một phần trong Chiến tranh Bảy năm kéo dài từ năm 1754 đến 1763.

Liên bang hóa

Rupert’s Land được Công ty Hudson Bay nhượng lại cho Canada vào năm 1869 và được sáp nhập vào Northwest Territories. Sự thiếu chú ý đến người Métis đã khiến nhà lãnh đạo Métis là Louis Riel thành lập một chính phủ địa phương theo Công ước Bốn mươi và Hội đồng Lập pháp Assiniboia được bầu sau đó vào ngày 09/03/1870. Hội nghị này sau đó đã cử ba đại biểu đến Ottawa để đàm phán với chính phủ Canada. Điều này dẫn đến Đạo luật Manitoba và việc Manitoba gia nhập Liên bang Canada. Louis Riel bị quân đội Anh truy đuổi vì cuộc nổi loạn, và Riel phải chạy trốn. Chính phủ Canada đã chặn các nỗ lực của Métis để đẩy nhanh quá trình gia nhập liên bang Canada của Manitoba. Đối mặt với nạn phân biệt chủng tộc do sự di cư nhanh chóng của ngườ da trắng đến từ Ontario, một số lượng lớn người Métis đã chuyển đến nơi sau này trở thành Saskatchewan và Alberta.

Manitoba-lich-su-3

11 Hiệp ước đã được ký kết vào cuối thế kỷ 19 giữa các thủ lĩnh của First Nation và chính quyền Canada. Chính quyền Canada đã đưa ra những lời hứa cụ thể về đất đai cho các gia đình. Số lượng đất quy định đã hứa với người dân bản địa không được đáp ứng đầy đủ, điều này khiến các nhóm thổ dân tiếp tục đặt yêu sách với chính phủ Canada và vẫn tiếp tục cho đến ngày nay.

Tỉnh Manitoba ban đầu chỉ chiếm 1/18 kích thước so với diện tích của tỉnh bang ngày nay. Manitoba hay được gọi với cái tên là “tỉnh bang tem bưu điện (Postage Stamp Province”. Biên giới tỉnh bang được mở rộng vào năm 1881, lấy đất từ Northwest Territories và Quận Keewatin, nhưng Ontario chiếm một phần lớn đất đai; phần tranh chấp đã được trao cho Ontario vào năm 1889. Manitoba đã phát triển đến quy mô hiện tại vào năm 1912, nhận một phần đất đai từ Northwest Territories.

Lịch sử đương đại

Đến năm 1911, Winnipeg là thành phố lớn thứ ba ở Canada và vẫn như vậy cho đến khi bị Vancouver vượt qua vào những năm 1920. Manitoba phát triển nhanh chóng vào khoảng đầu thế kỷ 20 với các nhà đầu tư nước ngoài và những làn sóng người nhập cư. Tăng trưởng giảm trong nửa cuối thập kỷ là kết quả của việc mở Kênh đào Panama vào năm 1914, đã làm giảm sự phụ thuộc vào đường sắt xuyên lục địa cũng như giảm nhập cư do Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Hơn 18.000 người dân Manitoba nhập ngũ trong năm đầu tiên của cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, vào cuối cuộc chiến, 14 người Manitobans đã nhận được huân chương Victoria Cross.

Canada tham gia Thế chiến thứ hai vào năm 1939. Winnipeg là một trong những căn cứ Không quân Liên hiệp Anh nhằm đào tạo phi công chiến đấu. Trong nỗ lực huy động quyên góp tiền cho chiến tranh, Victory Loan đã tổ chức “If Day” vào năm 1942. Sự kiện này mô phỏng cuộc xâm lược và chiếm đóng của Đức Quốc xã ở Manitoba và cuối cùng đã quyên góp được hơn 65 triệu đô la Canada.

Winnipeg đã bị ngập lụt trong trận lũ sông Red vào năm 1950 và phải sơ tán một phần. Vào năm đó, sông Red đã đạt mức cao nhất kể từ năm 1861 và làm ngập hầu hết Thung lũng sông Red. Thiệt hại do trận lụt đã khiến Thủ tướng Duff Roblin khi đó phải ủng hộ xây dựng đập sông Red. Công trình được hoàn thành vào năm 1968 sau 6 năm thi công. Vào năm 1997, “Lũ lụt thế kỷ” đã gây ra thiệt hại hơn 400 triệu đô la ở Manitoba, nhưng đường lũ đã ngăn không cho thành phố Winnipeg bị ngập lụt.

ĐỊA LÝ

Manitoba-dia-ly

Manitoba giáp với Ontario ở phía đông, giáp Saskatchewan ở phía tây, giáp với Northwest Territories và Nunavut ở phía bắc, phía nam giáp với các bang North Dakota và Minnesota của Hoa Kỳ. Manitoba tiếp giáp với Vịnh Hudson ở phía đông bắc và là tỉnh thảo nguyên duy nhất có bờ biển nước mặn. Cảng Churchill là cảng nước sâu Bắc Cực duy nhất của Canada. Hồ Winnipeg là hồ nước ngọt lớn thứ mười trên thế giới. Vịnh Hudson là vịnh lớn thứ hai trên thế giới.

Tỉnh có đường bờ biển giáp với vịnh Hudson và có hơn 110.000 hồ, chiếm khoảng 15,6% diện tích lãnh thổ tỉnh bang.

Manitoba---dia-ly---khi-hau-koppen

Manitoba có khí hậu lục địa khắc nghiệt. Nhiệt độ và lượng mưa thường giảm dần từ nam ra bắc và tăng dần từ đông sang tây.

Nam Manitoba (bao gồm cả thành phố Winnipeg) có khí hậu lục địa ẩm ướt. Khu vực này lạnh, gió mùa đông và thường có bão tuyết, mùa hè ấm áp. Khu vực này là khu vực ẩm ướt nhất trong các tỉnh thảo nguyên, với lượng mưa vừa phải. Tây Nam Manitoba, mặc dù theo cùng phân loại khí hậu với phần còn lại của Nam Manitoba, gần với vùng bên trong khô cằn của Tam giác Palliser. Khu vực này khô hơn và dễ bị hạn hán hơn các khu vực khác ở miền nam Manitoba. Khu vực này lạnh, mùa hè thường ấm đến nóng với độ ẩm thấp đến trung bình.

NHÂN KHẨU HỌC

Manitoba-nhan-khau-hoc

Winnipeg là đô thị có dân số lớn thứ tám của Canada, với dân số 730.018 (Điều tra dân số năm 2011. Manitoba là tỉnh bang duy nhất ở Canada có hơn 55% dân số sống trong thành phố.

Theo cuộc điều tra dân số Canada năm 2006, nhóm dân tộc lớn nhất ở Manitoba là người Anh (22,9%), tiếp theo là người Đức (19,1%), người Scotland (18,5%), người Ukraine (14,7%), người Ireland (13,4%), người thổ dân Bắc Mỹ (10,6%), Ba Lan (7,3%), Métis (6,4%), Pháp (5,6%), Hà Lan (4,9%), Nga (4,0%) và Iceland (2,4%). 1/5 dân số được hỏi cũng xác định dân tộc của họ là “người Canada”. Người dân bản địa (bao gồm cả Métis) là nhóm dân cư bản địa phát triển nhanh nhất của Manitoba, chiếm 13,6% dân số Manitoba vào năm 2001.

Hầu hết người Manitoba theo đạo Kitô giáo:, 758.760 người Manitoba (68,7%) là những Ki-tô hữu, tiếp theo là 13.040 (1,2%) người Do Thái, 5.745 (0,5%) Phật giáo, 5,485 (0,5%) Sikh, 5,095 (0,5%) ) Hồi giáo, 3,840 (0,3%) Ấn Độ giáo, 201.825 Manitoba (18,3%) không theo tôn giáo.

KINH TẾ

Manitoba-kinh-te-1

Manitoba có một nền kinh tế ổn định dựa vào tài nguyên thiên nhiên. Tổng sản phẩm quốc nội của tỉnh bang vào khoảng 50,834 tỷ đô la trong năm 2008. Nền kinh tế của tỉnh tăng trưởng 2,4% trong năm 2008, năm thứ ba liên tiếp tăng trưởng. Thu nhập bình quân đầu người ở Manitoba năm 2006 là 25.100 đô la Canada, thấp hơn so với mức trung bình quốc gia là 26.500 đô la Canada, đứng thứ năm trong số các tỉnh bang của Canada. Tính đến tháng 10 năm 2009, tỷ lệ thất nghiệp của Manitoba là 5,8%.

Nền kinh tế của Manitoba phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, du lịch, điện, dầu mỏ, khai thác và lâm nghiệp. Nông nghiệp quan trọng và được phát triển chủ yếu ở miền nam tỉnh bang, mặc dù việc trồng ngũ cốc chủ yếu ở miền bắc tỉnh bang, vùng The Pas. Khoảng 12% đất nông nghiệp Canada là ở Manitoba. Trang trại phổ biến nhất ở khu vực nông thôn là chăn nuôi gia súc (34,6%), ngũ cốc (19,0%) và hạt có dầu (7,9%).

Manitoba-kinh-te

Manitoba là nhà sản xuất hạt hướng dương và đậu khô lớn nhất quốc gia, và là nguồn khoai tây hàng đầu quốc gia. Portage la Prairi là một trung tâm chế biến khoai tây lớn, và là nơi đặt trụ sở chính của nhà máy Thực phẩm McCain và Thực vật Simplot, nơi cung cấp khoai tây chiên cho McDonald’s, Wendy’s và các chuỗi nhà hàng thương mại khác. Richardson International, một trong những nhà máy yến mạch lớn nhất thế giới, cũng có nhà máy tại Manitoba.

Nhà tuyển dụng lớn nhất tại Manitoba là chính Manitoba kinh te 2phủ và các viện nghiên cứu hoạt động bằng nguồn vốn chính phủ, bao gồm các công ty và dịch vụ như bệnh viện và trường đại học. Các nhà tuyển dụng chính của kinh doanh tư nhân là Công ty Great-West Life Assurance, Cargill Ltd., và James Richardson and Sons Ltd. Manitoba cũng có các ngành sản xuất và du lịch lớn.

CHÍNH QUYỀN TỈNH BANG

Manitoba-chinh-tri

Sau khi vùng đất Rupert’s Land được chuyển từ Vương quốc Anh sang Chính phủ Canada vào năm 1869, chính quyền Manitoba được thành lập chính thức khi được tách ra từ một phần lãnh thổ Northwest Territories. Hội đồng lập pháp của Manitoba được thành lập vào ngày 14/07/1870. Các đảng chính trị lần đầu tiên xuất hiện trong giai đoạn 1878 – 1883, với một hệ thống hai đảng: Tự do và Bảo thủ.

Giống như tất cả các tỉnh của Canada, Manitoba được điều hành bởi một hội đồng lập pháp đơn viện, nhánh hành pháp được điều hành bởi đảng cầm quyền, lãnh đạo đảng là thống đốc của Manitoba. Người đứng đầu quốc gia, Nữ hoàng Elizabeth II, được đại diện bởi Quận công Manitoba, người được chính quyền quân chủ Canada bổ nhiệm theo sự đề xuất Thủ tướng Canada. Quận công Manitoba có vai trò thực hiện các nghi lễ và là đại diện chính thức cho hoàng gia, thực hiện hầu hết các công việc thay cho Nữ hoảng.

GIÁO DỤC

Ngôi trường đầu tiên ở Manitoba được thành lập vào năm 1818 bởi các nhà truyền giáo của Giáo hội Công giáo La Mã ở thành phố Winnipeg ngày nay. Trường học Tin lành đầu tiên được thành lập vào năm 1820. Hội đồng giáo dục tỉnh được thành lập vào năm 1871, hội đồng có trách nhiệm quản lý các trường công lập và chương trình giảng dạy, và cũng là cơ quan đại diện cho cả trường Công giáo và Tin lành. Luật pháp tại Manitoba quy định giáo dục bắt buộc đối với trẻ em từ 7 đến 15 tuổi được ban hành lần đầu tiên vào năm 1916 và nâng lên thành 16 tuổi vào năm 1962.

Các trường công lập ở Manitoba thuộc phạm vi quản lý của 1 trong 37 phân khu hành chính và chịu sự chi phối của hệ thống giáo dục tỉnh bang. Các trường công lập tuân theo chương trình giảng dạy của tỉnh bang bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh. Có 65 trường học tư nhân được chính phủ hỗ trợ ở Manitoba, bao gồm 3 trường nội trú. Các trường học phải tuân thủ chương trình giảng dạy chung của Manitoba và đáp ứng các yêu cầu khác của tỉnh. Có 44 trường tư nhân không được chính phủ hỗ trợ và không bắt buộc phải đáp ứng các tiêu chuẩn đó.

Có năm trường đại học ở Manitoba chịu sự quản lý của Bộ Giáo dục và Văn học. Bốn trong số các trường đại học này ở Winnipeg bao gồm Đại học Manitoba (lớn nhất và đào tạo toàn diện nhất), Đại học Winnipeg, Đại học de Saint-Boniface (trường đại học tiếng Pháp duy nhất của tỉnh) và Đại học Mennonite Canada (một học viện tôn giáo). Đại học Brandon, được thành lập vào năm 1899 tại Brandon, đây là trường đại học duy nhất của tỉnh không thuộc thành phố Winnipeg.Manitoba giao duc

Manitoba có 38 thư viện công cộng, bao gồm 12 bộ thư viện chuyên tiếng Pháp và 8 thư viện các ngôn ngữ khác, 21 thư viện trong số này là một phần của hệ thống Thư viện Công đồng Winnipeg.

QUÂN SỰ

Căn cứ quân sự Winnipeg tọa lạc tại sân bay quốc tế Winnipeg. Căn cứ này là nơi hỗ trợ và duy trì hoạt động bay cũng như một số trường đào tạo. Căn cứ của Sư đoàn 1 Không quân Canada và Canadian NORAD cũng đặt tại Manitoba. 17 sư đoàn không quân của quân đội Canada đóng căn cứ tại CFB Winnipeg, 1 sư đoàn bao gồm 3 trung đoàn và 6 trường đào tạo. Họ hỗ trợ cho 113 đơn vị từ Thunder Bay (Ontario) đến biên giới Saskatchewan – Alberta và từ vĩ tuyến 49 phía bắc đến Bắc cực.

Manitoba-quan-su

NGÔN NGỮ CHÍNH THỨC

Tiếng Anh và tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức của cơ quan lập pháp và tòa án Manitoba, theo Điều 23 của Đạo luật Manitoba, năm 1870 (một phần của Hiến pháp Canada). Vào tháng 04/1890, cơ quan lập pháp Manitoba đã cố gắng bãi bỏ sự chính thức của tiếng Pháp và ngừng xuất bản luật song ngữ. Tuy nhiên, vào năm 1985, Tòa án Tối cao Canada đã đưa ra phán quyết Điều 23 vẫn áp dụng và luật pháp được công bố chỉ bằng tiếng Anh là không hợp lệ.

Mặc dù tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức của cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, Đạo luật Manitoba không yêu cầu nó phải là ngôn ngữ chính thức cho nhánh hành pháp (trừ khi thực hiện các chức năng lập pháp hoặc tư pháp). Do đó, chính phủ của Manitoba không hoàn toàn sử dụng song ngữ. Chính sách ngôn ngữ tiếng Pháp năm 1999 của Manitoba nhằm cung cấp một mức độ tương tự với tiếng Anh các dịch vụ của chính quyền tỉnh bằng cả hai ngôn ngữ chính thức. Theo điều tra dân số năm 2006, 82,8% dân số Manitoba chỉ nói tiếng Anh, 3,2% chỉ nói tiếng Pháp, 15,1% nói cả hai và 0,9% không dùng cả tiếng Anh lẫn tiếng Pháp.

GIAO THÔNG VẬN TẢI

Manitoba-giao-thong-1

Vận tải và kho bãi đóng góp khoảng 2,2 tỷ đô la Canada vào GDP của Manitoba. Tổng số việc làm trong ngành được ước tính là 34.500, tương đương khoảng 5% dân số của Manitoba. 5 trong 25 nhà tuyển dụng lớn nhất của Canada trong lĩnh vực cho thuê xe tải có trụ sở tại Manitoba.

Manitoba có hai tuyến đường sắt loại I: Đường sắt quốc gia Canada (CN) và Đường sắt Canadian Pacific (CPR).

 Winnipeg nằm ở trung tâm trên các tuyến chính của cả hai hãng và cả hai đều duy trì các nhà ga liên kết lớn trong thành phố. CN và CPR vận hành 2.439km đường ray ở Manitoba. Via Rail cung cấp dịch vụ chở khách xuyên lục địa và đến miền Bắc Manitoba từ Ga Union tại Winnipeg. Nhiều tuyến đường sắt nhỏ trong khu vực và tuyến ngắn cũng chạy các đoàn tàu trong Manitoba.

Sân bay quốc tế Winnipeg James Armstrong Richardson, sân bay lớn nhất của Manitoba, là một trong số ít các sân bay không giới hạn giờ giấc ở Canada và là một phần của Hệ thống sân bay quốc gia. Một nhà ga mới được khánh thành vào tháng 10/2011. Sân bay xử lý khoảng 195.000 tấn hàng hóa hàng năm. Đây là sân bay chở hàng lớn thứ ba trong cả nước.

Manitoba-giao-thong-2

Cảng Churchill, thuộc sở hữu của tập đoàn Arctic Gateway là cảng nước sâu Bắc Cực duy nhất ở Canada, địa điểm tọa lạc gần với các cảng ở Bắc Âu và Nga hơn bất kỳ cảng nào khác ở Canada. Cảng này bao gồm 4 ụ tau sâu để bốc dỡ các loại hàng hóa là nguyên liệu và dầu mỏ. Cảng được phục vụ bởi Đường sắt Hudson Bay, cũng thuộc sở hữu của tập đoàn Arctic Gateway.

VĂN HÓA

Manitoba-van-hoa-1

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Di sản, Du lịch và Thể thao chịu trách nhiệm thúc đẩy vàtài trợ cho văn hóa Manitoba ở một mức độ nào đó. Manitoba sản sinh ra điệu nhảy Red River Jig, sự kết hợp giữa điệu nhảy pow-wows của thổ dân địa phương và điệy nhảy truyền thống ở châu Âu. Âm nhạc truyền thống của Manitoba có nguồn gốc từ văn hóa Métis và First Nations. Khung cảnh văn hóa của Manitoba cũng kết hợp các truyền thống cổ điển châu Âu.

 Royal Winnipeg Ballet (RWB) có trụ sở tại Winnipeg, là công ty múa ba lê lâu đời nhất và và hoạt động trong thời gian dài nhất tại Bắc Mỹ. Nhà hát này được trao danh hiệu hoàng gia vào năm 1953 dưới thời Nữ hoàng Elizabeth II. Dàn nhạc giao hưởng Winnipeg (WSO) biểu diễn nhạc cổ điển và các tác phẩm mới tại Centennial Concert Hall. Manitoba Opera, được thành lập vào năm 1969, cũng biểu diễn tại Centennial Concert Hall.

Le Cercle Molière (thành lập năm 1925) là nhà hát tiếng Pháp lâu đời nhất ở Canada. Trung tâm Sân khấu Hoàng gia Manitoba (thành lập năm 1958) là nhà hát khu vực tiếng Anh lâu đời nhất của Canada. Nhà hát Manitoba dành cho giới trẻ là nhà hát tiếng Anh đầu tiên giành được giải thưởng của Viện nghệ thuật dành cho khán giả trẻ Canada, và cung cấp các vở kịch cho trẻ em và thanh thiếu niên cũng như một trường sân khấu. Phòng trưng bày nghệ thuật Winnipeg (WAG) là phòng trưng bày nghệ thuật lớn nhất của Manitoba và lớn thứ sáu trong cả nước, nơi đây tổ chức một trường nghệ thuật cho trẻ em. Bộ sưu tập của WAG bao gồm hơn 20.000 tác phẩm, đặc biệt nhấn mạnh vào nghệ thuật Manitoba và Canada.

Lễ hội diễn ra trên toàn tỉnh bang với những lễ hội lớn nhất thường tập trung ở Winnipeg. Lễ hội dân gian Winnipeg được tổ chức lần đầu vào năm 1974 như một lễ kỷ niệm 100 năm của thành lập thành phố Winnipeg. Ngày nay, lễ hội kéo dài 5 ngày là một trong những lễ hội dân gian lớn nhất ở Bắc Mỹ với hơn 70 nền văn hóa từ khắp nơi trên thế giới và sự tham dự hơn 80.000 người.

Manitoba-lich-su-van-hoa

Bảo tàng Manitoba lưu giữ nhiều di sản của tỉnh bang. Bảo tàng Manitoba là bảo tàng lớn nhất ở Manitoba và tập trung vào lịch sử Manitoba từ thời tiền sử đến những năm 1920. Bảo tàng thiếu nhi Manitoba tại The Fork trưng bày các triển lãm dành cho trẻ em. Ngoài ra còn có  các bảo tàng động vật và thực vật tại Manitoba là Living Prairie và FortWhyte Alive.

Winnipeg có hai tờ báo hàng ngày Winnipeg Free Press, một tờ báo có số độc giả nhiều nhất ở Manitoba, và báo Sun Sun, một hãng báo tin tức nhỏ hơn.

Canada có 5 đội thể thao chuyên nghiệp bao gồm Winnipeg Blue Bombers (Canadian Football League), Winnipeg Jets (National Hockey League), Manitoba Moose (American Hockey League), Winnipeg Goldeyes (American Association), và Valour FC (Canadian Premier League).